làng tôi vốn làm nghề chài lưới
Bao đời nay người dân làng Hòa Lam sinh sống bằng nghề chài lưới, cuộc sống vô cùng khó khăn vất vả. Theo lời kể, cụ vốn là dân bên làng Khánh Hậu, theo chồng về làm dâu ở đây từ những năm 50. Không biết ngôi làng có từ bao giờ, chỉ biết gốc tích dân làng Đáy
Ngày xưa ở vùng Cao Bằng có một chàng trẻ tuổi, nay đây mai đó làm nghề chài lưới, tên là Triều. Gia sản của anh không có gì ngoài bộ đồ nghề. Nhưng tính anh vốn hay thương người. Mỗi lần đánh được nhiều cá, anh thường đổi lấy gạo đem chu cấp cho những người túng thiếu mà anh gặp. Vì vậy người nghèo khổ trong vùng, ai cũng mến anh.
Nghỉ làm biển, chàng trai sinh năm 1992 - Võ Hồng Rôn - biến làng chài nghèo thành những homestay phục vụ du khách đến thư giãn, trải nghiệm điều thú vị. Bao đời nay, người dân ở làng chài nghèo thôn Hà Lộc, xã Tam Tiến, huyện Núi Thành (Quảng Nam) chỉ biết theo cái nghề
Làng chài tỷ phú nổi tiếng nhất nước đang chìm đắm trong nợ, ước tính có khoảng 400 gia đình sẽ mất nhà vì thế chấp ngân hàng và vay nóng. Cửa biển Cửa Đại Cổ Lũy có đội tàu hơn 1000 chiếc làm nghề lưới giã cào, bên cạnh đó là một số tàu làm nghề lưới
Môn Văn Lớp: 8 Giúp em bài này với ạ: Bài 1: Đọc đoạn thơ sau và trả lời câu hỏi: Làng tôi ở vốn làm nghề chài lưới: Nước bao vây cách biển nửa ngày sông. Khi trời trong, gió nhẹ, sớm mai hồng, Dân trai tráng bơi thuyền đi đánh cá: Chiếc thuyền nhẹ hăng như con tuấn mã.
Les Belles Rencontres Se Font Partout Mais Surtout Ailleurs. UIOJK 19 tháng 2 2020 lúc 1539 Nêu nội dung hai câu thơ sauLàng Tôi vốn làm nghề chài lướinước bao vây cách biển nửa ngày sông Xem chi tiết UIOJK 19 tháng 2 2020 lúc 1530 Nêu nội dung hai câu thơ sauLàng Tôi vốn làm nghề chài lướinước bao vây cách biển nửa ngày sông Xem chi tiết Làng tôi ở vốn làm nghề chài lưới Nước bao vây, cách biển nửa ngày tiếp bài thơ trên. Cho biết tên bài thơ và tác giả. Xem chi tiết Bài tập 1 Mở đầu bài thơ “Quê hương”, nhà thơ Tế Hanh viếtLàng tôi ở vốn làm nghề chài lướiNước bao vây, cách biển nửa ngày sông…1. Chép thuộc lòng 6 câu thơ tiếp Bài thơ Quê hương được sáng tác trong hoàn cảnh nào?3. Chỉ rõ và nêu tác dụng của biện pháp nghệ thuật sa sánh trong hai câu thơ sau “Cánh buồm giương to như mảnh hồn làng Rướn thân trắng bao la thâu góp gió”4. Viết đoạn văn khoảng...Đọc tiếp Xem chi tiết Câu 1Cho đoạn thơ sau“Làng tôi ở vốn làm nghề chài lướiNước bao vây cách biển nửa ngày trời trong, gió nhẹ, sớm mai hồng,Dân trai tráng bơi thuyền đi đánh thuyền nhẹ hăng như con tuấn mãPhăng mái chèo, mạnh mẽ vượt trường buồm giương, to như mảnh hồn làngRướn thân trắng bao la thâu góp gió…,,a/ Đoạn thơ được trích từ bài thơ nào ? Do ai sáng tác ?b/ Trong đoạn thơ trên, tác giả đã giới thiệu quê hương của mình như thế nào ?Nêu nhận xét về cách giới thiệu của tác g...Đọc tiếp Xem chi tiết
Đề số 1 Đọc đoạn thơ và trả lời các câu hỏiLàng tôi ở vốn làm nghề chài lưới Nước bao vây cách biển nửa ngày sông.Khi trời trong, gió nhẹ, sớm mai hồng, Dân trai tráng bơi thuyền đi đánh cá.Chiếc thuyền nhẹ hăng như con tuấn mã Phăng mái chèo mạnh mẽ vượt trường giang.Cánh buồm trương, to như mảnh hồn làng Rướn thân trắng bao la thâu góp gió.... Nay xa cách lòng tôi luôn tưởng nhớ Màu nước xanh, cá bạc, chiếc buồm vôi,Thoáng con thuyền rẽ sóng chạy ra khơi, Tôi thấy nhớ cái mùi nồng mặn quá! Câu hỏi Bộ đề đọc hiểu phần văn bản văn học, môn ngữ văn Bài thơ Quê hương - Tế Hanh Câu 1 Chỉ ra thể loại và phương thức biểu đạt chính của đoạn thơ Câu 2 Khái quát nội dung chính của đoạn thơ Câu 3 Đoạn trích thể hiện tình cảm của tác giả với quê hương trong hoàn cảnh nào? Vì sao em biết? Tác giả bộc lộ tình cảm gì vơi quê hương? Câu 4 Xét về cấu tạo, câu sau thuộc kiểu câu nào? Hãy phân tích cấu tạo ngữ pháp của câu Khi trời trong, gió nhẹ, sớm mai hồng Dân trai tráng bơi thuyền đi đánh cá Câu 5 Chỉ ra, nêu tác dụng của các biện phép tu từ được sử dụng trong đoạn thơ Chiếc thuyền nhẹ hăng như con tuấn mã Phăng mái chèo mạnh mẽ vượt trường giang. Cánh buồm giương, to như mảnh hồn làng Rướn thân trắng bao la thâu góp gió.. Câu 5. Từ đoạn thơ trên, hãy viết đoạn văn khoảng 200 chữ nêu suy nghĩ vè vai trò của tình yêu quê hương. Trả lời Bộ đề đọc hiểu phần văn bản văn học, môn ngữ văn Bài thơ Quê hương - Tế Hanh Câu 1 Chỉ ra thể loại và phương thức biểu đạt chính của đoạn thơ - Thể loại Thơ 8 chữ. - Phương thức biểu đạt chính Biểu cảm Câu 2 Khái quát nội dung chính của đoạn thơ Đoạn trích tái hiện cảnh đoàn thuyền đánh cá ra khơi hăng say, hứng khởi và nỗi nhớ quê hương da diết của nhà thơ. Câu 3 Đoạn trích thể hiện tình cảm của tác giả với quê hương trong hoàn cảnh nào? Vì sao em biết? Tác giả bộc lộ tình cảm gì vơi quê hương? - Hoàn cảnh Đang sống xa quê - Vì; thể hiện qua từ "xa cách, tưởng nhớ" - Tình cảm của tác giả Yêu mến, tự hào, gắn bó máu thịt với quê hương, nhớ quê hương da diết Câu 4 Xét về cấu tạo, câu sau thuộc kiểu câu nào? Hãy phân tích cấu tạo ngữ pháp của câu Khi trời trong, gió nhẹ, sớm mai hồng Dân trai tráng bơi thuyền đi đánh cá Khi trời trong, gió nhẹ, sớm mai hồng TN Dân trai tráng CN bơi thuyền đi đánh cá VN - >Câu đơn Câu 5 Chỉ ra, nêu tác dụng của các biện phép tu từ được sử dụng trong đoạn thơ Chiếc thuyền nhẹ hăng như con tuấn mã Phăng mái chèo mạnh mẽ vượt trường giang. Cánh buồm giương, to như mảnh hồn làng Rướn thân trắng bao la thâu góp gió.. - Phép so sánh So sánh "chiếc thuyền" với "con tuấn mã" so sánh một vật cụ thể, hữu hình với một vật cụ thể, hữu hình khác ; so sánh "cánh buồm" với "mảnh hồn làng" so sánh một vật cụ thể, hữu hình với một vật trừu tượng, vô hình. - Nhân hóa Rướn - Ẩn dụ Hình ảnh cánh buồm trắng biểu tượng cho linh hồn làng chài. => Tác dụng Giúp đoạn thơ trở nên giàu hình ảnh, sinh động, gợi hình, gợi cảm; làm nổi bật vẻ đẹp đầy sức sống, khí thế hăm hở, dũng mãnh, hào hùng của con thuyền khi ra khơi +thể hiện tình yêu thiên nhiên, quê hương, cuộc sống làng chài làng chài + làm nổi bật vẻ đẹp và ý nghĩa thiêng liêng của hình ảnh con thuyền, cánh buồm với làng chài. Cánh buồn trở thành máu thịt, là linh hồn của làng, là biểu tượng của người dân làng chài. +thể hiện tình yêu thiên nhiên, quê hương, cuộc sống làng chàilàng chài Câu 5. Từ đoạn thơ trên, hãy viết đoạn văn khoảng 200 chữ nêu suy nghĩ vè vai trò của tình yêu quê hương. Định hướng Ý chính cần nêu trong bài làm - Nêu vấn đề Đoạn thơ của Tế Hanh đã gợi trong lòng mỗi người những suy tư sâu sắc về vai trò của tình yêu quê hương. - Giải thích Tình yêu quê hương là tình cảm yeu mến, trân trọng, tự hào, gắn bó sâu sắc, chân thành đối với những sự vật và con người nơi ta được sinh ra và lớn lên. - Vai trò của tình yêu quê hương + Tình yêu quê hương là thứ tình cảm vô cùng thiêng liêng. + Tình yêu quê hương giúp cho mỗi người bồi đắp tình cảm cao đẹp, thiêng liêng như yêu ngôn ngữ dân tộc, yêu gia đình, người thân +Giúp mỗi người có ý thức tích cực học tập, rèn luyện, lao động, sống tốt, sống đẹp, thành công, hạnh phúc. + tình yêu quê hương giúp gắn kết cộng đồng, góp phần bảo vệ, giữ gìn, xây dựng và phát triển đất nước ngày càng giàu mạnh. - Lời khuyênCòn nữa Đề số 2 Đọc bài thơ và trả lời các câu hỏi Chim bay dọc biển đem tin cá Làng tôi ở vốn làm nghề chài lưới Nước bao vây cách biển nửa ngày sông. ** Khi trời trong, gió nhẹ, sớm mai hồng, Dân trai tráng bơi thuyền đi đánh cá. Chiếc thuyền nhẹ hăng như con tuấn mã Phăng mái chèo mạnh mẽ vượt trường giang. Cánh buồm trương, to như mảnh hồn làng Rướn thân trắng bao la thâu góp gió.. ** Ngày hôm sau, ồn ào trên bến đỗ Khắp dân làng tấp nập đón ghe về. "Nhờ ơn trời, biển lặng cá đầy ghe", Những con cá tươi ngon thân bạc trắng. Dân chài lưới, làn da ngăm rám nắng, Cả thân hình nồng thở vị xa xăm; Chiếc thuyền im bến mỏi trở về nằm Nghe chất muối thấm dần trong thớ vỏ. ** Nay xa cách lòng tôi luôn tưởng nhớ Màu nước xanh, cá bạc, chiếc buồm vôi, Thoáng con thuyền rẽ sóng chạy ra khơi, Tôi thấy nhớ cái mùi nồng mặn quá! Câu hỏi Câu 1 Chủ thể trữ tình của bài thơ trên là ai? Vì sao em biết? Câu 2 Khái quát nội dung chính của bài thơ Câu 3. Câu thơ nào tái hiện vẻ đẹp của người dân chài lưới? Nhận xét cách miêu tả của tác giả trong lời thơ trên. Câu 4. Tìm và nêu tác dụng của câu cảm thán trong bài thơ Câu 5 Chỉ ra và nêu tác dụng của các biện pháp tu từ được sử dụng trong những câu thơ - Cánh buồm giương to như mảnh hồn làng Rướn thân trắng bao la thâu góp gió.. - Dân chài lưới làn da ngăm rám nắng, Cả thân hình nồng thở vị xa xăm. Câu 6. Bài thơ bồi đắp cho em những tình cảm gì với quê hương? Câu 7 Viết một đoạn văn ngắn trình bày cảm nhận về cảnh đoàn thuyền đánh cá qua đoạn thơ Khi trời trong, gió nhẹ, sớm mai hồng, Dân trai tráng bơi thuyền đi đánh cá. Chiếc thuyền nhẹ hăng như con tuấn mã Phăng mái chèo mạnh mẽ vượt trường giang. Cánh buồm trương, to như mảnh hồn làng Rướn thân trắng bao la thâu góp gió.. Trả lời Câu 1 Chủ thể trữ tình của bài thơ trên là ai? Vì sao em biết? - Chủ thể trữ tình Là tác giả - Thể hiện qua dòng thơ Làng tôi ở vốn làm nghề chài lưới, Nay xa cách lòng tôi luôn tưởng nhớ, Tôi thấy nhớ cái mùi nồng mặn quá! Câu 2 Khái quát nội dung chính của bài thơ - Bài thơ tái hiện tranh làng quê miền biển tươi sáng, sinh động với sự khỏe khoắn, đầy sức sống của người dân chài. Qua đó thể hiện tình cảm gắn nó, tự hào và nhớ quê hương da diết của nhà thơ. Câu 3. Câu thơ nào tái hiện vẻ đẹp của người dân chài lưới? Nhận xét cách miêu tả của tác giả trong lời thơ trên. - Câu thơ Dân chài lưới làn da ngăm rám nắng Cả thân hình nồng thở vị xa xăm - > Hình ảnh người dân chài được miêu tả kết hợp tả thực da rám nắng vừa tả lãng mạn thân hình nồng thở vị xa xăm - Tác dụng Tái hiện, làm nổi bật vẻ đẹp người dân chài khoẻ mạnh, thân hình cường tráng, vạm vỡ, cơ bắp, đầy sức sống, thấm đẫm vị mặn mòi của biển cả. Câu 4. Tìm và nêu tác dụng của câu cảm thán trong bài thơ - Câu cảm thán Tôi thấy nhớ cái mùi nồng mặn quá! - > Câu cảm thán dùng để bộ lộ cảm xúc trực tiếp cảm xúc nhớ quê hương da diết của nhà thơ khi xa cách. Câu 5. Chỉ ra và nêu tác dụng của các biện pháp tu từ được sử dụng trong những câu thơ - Cánh buồm giương to như mảnh hồn làng Rướn thân trắng bao la thâu góp gió.. - Dân chài lưới làn da ngăm rám nắng, Cả thân hình nồng thở vị xa xăm. - So sánh Cánh buồm giương to so sánh như mảnh hồn làng - Nhân hóa Rướn thân - Ẩn dụ Qua hình ảnh "thân hình nồng thở vị xa xăm" ẩn dụ chuyển đổi cảm giác, "thân hình" nay được cảm nhận bằng xúc giác - "mặn" →Tác dụng + thể hiện hình tượng người dân miền biển khỏe khoắn, từng trải, hòa quyện bền chặt với biển cả - ngọn nguồn nuôi dưỡng cuộc sống. +làm nổi bật hình ảnh cánh buồm là linh hồn của làng biển. + thể hiện tình yêu, niềm tự hào về làng quẻ, tinh thần chủ động, làm chủ cuộc sống của người dân. Câu 6. Bài thơ bồi đắp cho em những tình cảm gì với quê hương? - Bồi đắp tình cảm gắn bó, tự hào về quê hương, dù chỉ là quê hương nghèo, lam lũ, cần lao. - Dù có sống xa quê vẫn luôn yêu mến, luôn nhớ đến quê hương. - Yêu gia đình, xóm làng và công việc lao động mưu sinh ở quê hương. - Yêu cảnh vật, gắn bó thân thiết với quê hương. Câu 7 Định hướng Đoạn văn cần đảm bảo các ý *Mở đoạn Bài thơ khắc họa sinh động bức tranh lao động làng chài với hành trình một chuyến ra khơi đánh cá, qua đó thể hiện nỗi nhớ quê hương da diết của nhà thơ *Thân đoạn - Cảm nhận về vẻ đẹp của cảnh đoàn thuyền ra khơi đánh cá hăng say, hứng khởi tràn đầy sức sống + Thời gian bắt đầu Sớm mai hồng => gợi niềm tin, hi vọng + Không gian "trời xanh", "gió nhẹ" + Người dân chài đi đánh cá trong buổi sáng đẹp trời, hứa hẹn một chuyến ra khơi đầy thắng lợi + hình ảnh cánh buồm làng gần gũi, thân thương, gió biểu tượng cho linh hồn của làng chài quê hương - Vẻ đẹp của nghệ thuật Lời thơ gợi hình, gợi cảm, ngôn ngữ giản dị, cùng nhân hóa cánh buồm được nhân hóa như một con người, nó đang rướn cao thân mình thu hết gió của đại dương, ẩn dụ cánh buồm ẩn dụ cho linh hồn làng chài, so sánh.. *Kết đoạn Khẳng định vấn đề Đoạn thơ đã vẽ lên một bức tranh lao động của người dân làng chài khoẻ khoắn tràn đầy sức sống qua đó thể hiện khát vọng chinh phục thiên nhiên của con người. >>> Bộ Đề Đọc Hiểu Bài Thơ Ngắm Trăng Trong Tù Không Rượu Cũng Không Hoa - Hồ Chí Minh Chỉnh sửa cuối 18 Tháng hai 2022 bài thơ ngữ văn quê hương văn học đọc hiểu
Môn Văn Lớp 8 Bài 1 Đọc đoạn thơ sau và trả lời câu hỏi Làng tôi ở vốn làm nghề chài lưới Nước bao vây cách biển nửa ngày sông. Khi trời trong, gió nhẹ Question Môn Văn Lớp 8 Giúp em bài này với ạ Bài 1 Đọc đoạn thơ sau và trả lời câu hỏi Làng tôi ở vốn làm nghề chài lưới Nước bao vây cách biển nửa ngày sông. Khi trời trong, gió nhẹ, sớm mai hồng, Dân trai tráng bơi thuyền đi đánh cá Chiếc thuyền nhẹ hăng như con tuấn mã Phăng mái chèo mạnh mẽ vượt trường giang. Cánh buồm trương, to như mảnh hồn làng Rướn thân trắng bao la thâu góp gió… aphương thức biểu đạt chính của đoạn thơ trên là gì ? b em hãy cho biết biện pháp tu từ trong đoạn văn trên ? cnêu nội dung của đoạn văn trên? dbài học rút ra là gì ? e từ đoạn thơ trên em hãy viết một đoạn văn 6-8 câu tình yêu của em đối với quê hương nơi em đâng sinh sống ? Bài 2Đọc kĩ đoạn văn sau và trả lời câu hỏi …………… Khi trời trong, gió nhẹ, sớm mai hồng, Dân trai tráng bơi thuyền đi đánh cá Chiếc thuyền nhẹ hăng như con tuấn mã Phăng mái chèo mạnh mẽ vượt trường giang. Cánh buồm trương, to như mảnh hồn làng Rướn thân trắng bao la thâu góp gió… Ngày hôm sau, ồn ào trên bến đỗ Khắp dân làng tấp nập đón ghe về. “Nhờ ơn trời, biển lặng cá đầy ghe”, Những con cá tươi ngon thân bạc trắng. Dân chài lưới, làn da ngăm rám nắng, Cả thân hình nồng thở vị xa xăm; Chiếc thuyền im bến mỏi trở về nằm Nghe chất muối thấm dần trong thớ vỏ. Trích Quê hương – Tế Hanh aphương thức biểu đạt chính của đoạn thơ trên là gì ? bem hãy cho biết biện pháp tu từ trong đoạn văn trên ? cnêu nội dung của đoạn văn trên? dbài học rút ra là gì ? Giúp mk vs ạ Mai mk thi rồi ! Cảm ơn ạ. No copy trên mạng nha. Em xin cảm ơn mọi người ạ in progress 0 Văn 1 năm 2021-11-07T035824+0000 2021-11-07T035824+0000 1 Answer 0
Quê hương lý thuyết trắc nghiệm hỏi đáp bài tập sgk Câu hỏi Làng tôi ở vốn nghề chài lưới Nước trong xanh cách biển nửa ngày sông Khi trời trong gió nhẹ sớm mai hồng Dân chai tráng bơi thuyền đi đánh cá Chiếc thuyền nhẹ hăng như con tuấn mã Phăng mái chèo mạnh mẽ vượt trường giang Cánh buồm giương to như mảnh hồn làng Rướn thân trắng bao la thâu góp gió nêu nội dung đoạn trích tr oi cius voi , giúp tớ huhu "Khi trời trong, gió nhẹ sớm mai hồng Dân trai tráng bơi thuyền đi đánh cá Chiếc thuyền nhẹ hăng như con tuấn mã Phăng mái chèo, mạnh mẽ vượt trường giang Cánh buồm giương to như mảnh hồn làng Rướn thân trắng bao la thâu góp gió..." Nêu nội dung của đoạn thơ trên Xem chi tiết Cho đoạn thơ sau " Khi trời trong gió nhẹ sớm mai hồng Dân trai tráng bơi thuyền đi đánh cá. Chiếc thuyền nhẹ hăng như con tuấn mã Phăng mái chèo, mạnh mẽ vượt trường giang. Cánh buồm giương to như mảnh hồn làng Rướn thân trắng bao la thâu góp gió". Viết đoạn văn tổng phân hợp từ 8-10 câu trình bày về đoạn thơ trên trong đoạn văn có sử dụng câu phủ định và 1 phép liên kết Xem chi tiết “Khi trời trong, gió nhẹ, sớm mai hồng Dân trai tráng bơi thuyền đi đánh cá. Chiếc thuyền nhẹ hăng như con tuấn mã Phăng mái chèo, mạnh mẽ vượt trường giang. Cánh buồm giương to như mảnh hồn làng Rướn thân trắng bao la thâu góp gió…” Ngữ văn 8 – tập 2 Viết 1 đoạn văn5-7 câu thể hiện cảm nghĩ của em về đoạn thơ trên trong đó có sử dụng ít nhất 2 kiểu câu theo mục đích nói đã học? Giúp tớ vs tớ sắp thi hk rĐọc tiếp“Khi trời trong, gió nhẹ, sớm mai hồng Dân trai tráng bơi thuyền đi đánh cá. Chiếc thuyền nhẹ hăng như con tuấn mã Phăng mái chèo, mạnh mẽ vượt trường giang. Cánh buồm giương to như mảnh hồn làng Rướn thân trắng bao la thâu góp gió…” Ngữ văn 8 – tập 2 Viết 1 đoạn văn5-7 câu thể hiện cảm nghĩ của em về đoạn thơ trên trong đó có sử dụng ít nhất 2 kiểu câu theo mục đích nói đã học? Giúp tớ vs tớ sắp thi hk r Xem chi tiết Khi trời trong, gió nhẹ, sớm mai hồngDân trai tráng bơi thuyền đi đánh thuyền nhẹ hăng như con tuấn mã Phăng mái chèo, mạnh mẽ vượt trường buồm giương to như mảnh hồn làng Rướn thân trắng bao la thâu góp gió... Lập dàn ý viết đoạn văn TPH 10 câu; s/d câu cảm thán, câu nghi vấn với mục đích khẳng định, s/d phép thế phân thích khổ thơ trên. mn ơi giúp mình với, mình sắp ktra rồi Đọc tiếp Xem chi tiết trình bày cảm nhận về những câu thơ sau"...khi trời trong gió nhẹ sớm mai dân trai tráng bơi thuyền đi đánh thuyền nhẹ hăng như con tuấn mã phăng mái trèo mạnh mẽ vượt trường giang cánh buồm giương to như mảnh hồn làng rướn thân trắng bao la thâu góp giótrích quê hương,tế hanh,ngữ văn 8 tập 2 Xem chi tiết Làng tôi ở vốn làm nghề chài lướiNước bao vây cách biển nửa ngày trời trong, gió nhẹ, sớm mai hồng,Dân trai tráng bơi thuyền đi đánh cáChiếc thuyền nhẹ hăng như con tuấn mãPhăng mái chèo mạnh mẽ vượt trường buồm trương, to như mảnh hồn làngRướn thân trắng bao la thâu góp gió…Ngày hôm sau, ồn ào trên bến đỗKhắp dân làng tấp nập đón ghe về.“Nhờ ơn trời, biển lặng cá đầy ghe”,Những con cá tươi ngon thân bạc chài lưới làn da ngăm rám nắng,Cả thân hình nồng thở vị xa x...Đọc tiếp Xem chi tiết "Khi trời trong gió nhẹ sớm mai hồngDân trai tráng bơi thuyền đi đánh thuyền nhẹ hăng như con tuấn mãPhăng mái chèo, mạnh mẽ vượt trường buồm giương to như mảnh hồn làngRướn thân trắng bao la thâu góp gió..."a. nội dung chính của đoạn thơ trênb. đoạn thơ trên gợi cho em suy nghĩ gì về vẻ đẹp của quê hương em Xem chi tiết Khi trời trong, gió nhẹ, sớm mai hồng,Dân trai tráng bơi thuyền đi đánh cáChiếc thuyền nhẹ hăng như con tuấn mãPhăng mái chèo mạnh mẽ vượt trường buồm trương, to như mảnh hồn làngRướn thân trắng bao la thâu góp gió...a Cảnh con thuyền ra khơi đánh cá được miêu tả như thế nàob đoạn thơ trên sử dụng biện pháp nghệ thuật nào? nêu tác dụngc nêu suy nghĩ của em về vẻ đẹp của người lao động Việt NamĐọc tiếp Xem chi tiết Khi trời trong,gió nhẹ,sớm mai hồngDân trai tráng bơi thuyền đi đánh thuyền nhẹ hăng như con tuấn mãPhăng mái chèo, mạnh mẽ vượt trường buồm giương to như mảnh hồn làngRướn thân trắng bao la thâu góp gió...Câu biết mạch cảm xúc của bài thơ chứa đoạn thơ trên?giúp mình với ạĐọc tiếp Xem chi tiết
Quê Hương Tế Hanh “Chim bay dọc biển mang tin cá” Câu thơ trên là của cha ông Làng tôi ở vốn làm nghề chài lưới Nước bao vây cách biển nửa ngày sông. Khi trời trong, gió nhẹ, sớm mai hồng, Dân trai tráng bơi thuyền đi đánh cá Chiếc thuyền nhẹ hăng như con tuấn mã Phăng mái chèo mạnh mẽ vượt trường giang. Cánh buồm trương, to như mảnh hồn làng Rướn thân trắng bao la thâu góp gió… Ngày hôm sau, ồn ào trên bến đỗ Khắp dân làng tấp nập đón ghe về. “Nhờ ơn trời, biển lặng cá đầy ghe”. Những con cá tươi ngon thân bạc trắng, Dân chài lưới, làn da ngăm rám nắng, Cả thân hình nồng thở vị xa xăm; Chiếc thuyền im bến mỏi trở về nằm Nghe chất muối thấm dần trong thớ vỏ. Nay xa cách lòng tôi luôn tưởng nhớ Màu nước xanh, cá bạc, chiếc buồm vôi, Thoáng con thuyền rẽ sóng chạy ra khơi, Tôi thấy nhớ cái mùi nồng mặn quá! 1939 Phân Tích Bài Thơ Quê Hương Của Tế Hanh Quê hương là nguồn cảm hứng vô tận của nhiều nhà thơ Việt Nam và đặc biệt là Tế Hanh – một tác giả có mặt trong phong trào Thơ mới và sau cách mạng vẫn tiếp tục sáng tác dồi dào. Ông được biết đến qua những bài thơ về quê hương miền Nam yêu thương với tình cảm chân thành và vô cùng sâu lắng. Ta có thể bắt gặp trong thơ ông hơi thở nồng nàn của những người con đất biển, hay một dòng sông đầy nắng trong những buổi trưa gắn với tình yêu quê hương sâu sắc của nhà thơ. Bài thơ “Quê hương” là kỉ niệm sâu đậm thời niên thiếu, là tác phẩm mở đầu cho nguồn cảm hứng về quê hương trong thơ Tế Hanh, bài thơ đã được viết bằng tất cả tấm lòng yêu mến thiên nhiên thơ mộng và hùng tráng, yêu mến những con người lao động cần cù. Bài thơ được viết theo thể thơ tám chữ phối hợp cả hai kiểu gieo vần liên tiếp và vần ôm đã phần nào thể hiện được nhịp sống hối hả của một làng chài ven biển Làng tôi ở vốn làm nghề chài lưới Nước bao vây cách biển nửa ngày sông Khi trời trong, gió nhẹ, sớm mai hồng Dân trai tráng bơi thuyền đi đánh cá. Quê hương trong tâm trí của những người con Việt Nam là mái đình, là giếng nước gốc đa, là canh rau muống chấm cà dầm tương. Còn quê hương trong tâm tưởng của Tế Hanh là một làng chài nằm trên cù lao giữa sông và biển, một làng chài sóng nước bao vây. một khung cảnh làng quê như đang mở ra trước mắt chúng ta vô cùng sinh động “Trời trong – gió nhẹ – sớm mai hồng”, không gian như trải ra xa, bầu trời như cao hơn và ánh sáng tràn ngập. Bầu trời trong trẻo, gió nhẹ, rực rỡ nắng hồng của buổi bình minh đang đến là một báo hiệu cho ngày mới bắt đầu, một ngày mới với bao nhiêu hi vọng, một ngày mới với tinh thần hăng hái, phấn chấn của biết bao nhiêu con người trên những chiếc thuyền ra khơi Chiếc thuyền nhẹ hăng như con tuấn mã Phăng mái chèo mạnh mẽ vượt trường giang Nếu như ở trên là miêu tả vào cảnh vật thì ở đây là đặc tả vào bức tranh lao động đầy hứng khởi và dạt dào sức sống. Con thuyền được so sánh như con tuấn mã làm cho câu thơ có cảm giác như mạnh mẽ hơn, thể hiện niềm vui và phấn khởi của những người dân chài. Bên cạnh đó, những động từ “hăng”, “phăng”, “vượt” diễn tả đầy ấn tượng khí thế băng tới vô cùng dũng mãnh của con thuyền toát lên một sức sống tràn trề, đầy nhiệt huyết. Vượt lên sóng. Vượt lên gió. Con thuyền căng buồm ra khơi với tư thế vô cùng hiên ngang và hùng tráng Cánh buồm giương to như mảnh hồn làng Rướn thân trắng bao la thâu góp gió… Từ hình ảnh của thiên nhiên, tác giả đã liên tưởng đến “hồn người”, phải là một tâm hồn nhạy cảm trước cảnh vật, một tấm lòng gắn bó với quê hương làng xómTế Hanh mới có thể viết được như buồm trắng vốn là hình ảnh quen thuộc nay trở nên lớn lao và thiên buồm trắng thâu gió vượt biển khơi như hồn người đang hướng tới tương lai tốt lẽ nhà thơ chợt nhận ra rằng linh hồn của quê hương đang nằm trong cánh buồm. Hình ảnh trong thơ trên vừa thơ mộng vừa hoành tráng, nó vừa vẽ nên chính xác hình thể vừa gợi được linh hồn của sự vật. Ta có thể nhận ra rằng phép so sánh ở đây không làm cho việc miêu tả cụ thể hơn mà đã gợi ra một vẻ đẹp bay bổng mang ý nghĩa lớn lao. Đó chính là sự tinh tế của nhà thơ. Cũng có thể hiểu thêm qua câu thơ này là bao nhiêu trìu mến thiêng liêng, bao nhiêu hy vọng mưu sinh của người dân chài đã được gửi gắm vào cánh buồm đầy gió. Dấu chấm lửng ở cuối đoạn thơ tạo cho ta ấn tượng của một không gian mở ra đến vô cùng, vô tận, giữa sóng nước mênh mông, hình ảnh con người trên chiếc tàu nhỏ bé không nhû nhoi đơn độc mà ngược lại thể hiện sự chủ động, làm chủ thiên nhiên của chính mình. Cả đoạn thơ là khung cảnh quê hương và dân chài bơi thuyền ra đánh cá, thể hiện được một nhịp sống hối hả của những con người năng động, là sự phấn khởi, là niềm hi vọng, lạc quan trong ánh mắt từng ngư dân mong đợi một ngày mai làm việc với bao kết quả tốt đẹp Ngày hôm sau ồn ào trên bến đỗ Khắp dân làng tấp nập đón ghe về Nhờ ơn trời, biển lặng, cá đầy ghe Những con cá tươi ngon thân bạc trắng. Những tính từ “ồn ào”, “tấp nập” toát lên không khí đông vui, hối hả đầy sôi động của cánh buồm đón ghe cá trở về. Người đọc như thực sự được sống trong không khí ấy, được nghe lời cảm tạ chân thành đất trời đã sóng yên, biển lặng để người dân chài trở về an toàn và cá đầy ghe, được nhìn thấy “những con cá tươi ngon thân bạc trắng”. Tế Hanh không miêu tả công việc đánh bắt cá như thế nào nhưng ta có thể tưởng tượng được đó là những giờ phút lao động không mệt mỏi để đạt được thành quả như mong đợi. Sau chuyến ra khơi là hình ảnh con thuyền và con người trở về trong ngơi nghỉ Dân chài lưới làn da ngăm rám nắng Cả thân hình nồng thở vị xa xăm Chiếc thuyền im bến mỏi trở về năm Nghe chất muối thấm dần trong thớ vỏ. Có thể nói rằng đây chính là những câu thơ hay nhất, tinh tế nhất của bài thơ. Với lối tả thực, hình ảnh “làn da ngắm rám nắng” hiện lên để lại dấu ấn vô cùng sâu sắc thì ngay câu thơ sau lại tả bằng một cảm nhận rất lãng mạn “Cả thân hình nồng thở vị xa xăm” – Thân hình vạm vỡ của người dân chài thấm đẫm hơi thở của biển cả nồng mặn vị muối của đại dương bao la. Cái độc đáo của câu thơ là gợi cả linh hồn và tầm vóc của con người biển cả. Hai câu thơ miêu tả về con thuyền nằm im trên bến đỗ cũng là một sáng tạo nghệ thuật độc đáo. Nhà thơ không chỉ thấy con thuyền nằm im trên bến mà còn thấy cả sự mệt mỏi của nó. Cũng như dân chài, con thuyền có vị mặn của nước biển, con thuyền như đang lắng nghe chất muối của đại dương đang thấm trong từng thớ vỏ của nó. Thuyền trở nên có hồn hơn, nó không còn là một vật vô tri vô giác nữa mà đã trở thành người bạn của ngư dân. Không phải người con làng chài thì không thể viết hay như thế, tinh như thế, và cũng chỉ viết được những câu thơ như vậy khi tâm hồn Tế Hanh hoà vào cảnh vật cả hồn mình để lắng nghe. Ở đó là âm thanh của gió rít nhẹ trong ngày mới, là tiếng sóng vỗ triều lên, là tiếng ồn ào của chợ cá và là những âm thanh lắng đọng trong từng thớ gỗ con thuyền. Có lẽ, chất mặn mòi kia cũng đã thấm sâu vào da thịt nhà thơ, vào tâm hồn nhà thơ để trở thành nỗi niềm ám ảnh gợi bâng khuâng kì diệu. Nét tinh tế, tài hoa của Tế Hanh là ông “nghe thấy cả những điều không hình sắc, không âm thanh như “mảnh hồn làng” trên “cánh buồm giương”… Thơ Tế Hanh là thế giới thật gần gũi, thường ta chỉ thấy một cách lờ mờ, cái thế giới tình cảm ta đã âm thầm trao cảnh vật sự mỏi mệt, say sưa của con thuyền lúc trở về bến…” Nói lên tiếng nói từ tận đáy lòng mình là lúc nhà thơ bày tỏ tình cảm của một người con xa quê hướng về quê hương, về đất nước Nay xa cách lòng tôi luôn tưởng nhớ Màu nước xanh, cá bạc, chiếc thuyền vôi Thoáng con thuyền rẽ sóng chạy ra khơi Tôi thấy nhớ cái mùi nồng mặn quá Nếu không có mấy câu thơ này, có lẽ ta không biết nhà thơ đang xa quê. ta thấy được một khung cảnh vô cùng sống động trước mắt chúng ta, vậy mà nó lại được viết ra từ tâm tưởng một cậu học trò. từ đó ta có thể nhận ra rằng quê hương luôn nằm trong tiềm thức nhà thơ, quê hương luôn hiện hình trong từng suy nghĩ, từng dòng cảm xúc. Nối nhớ quê hương thiết tha bật ra thành những lời nói vô cùng giản dị “Tôi thấy nhớ cái mùi nồng mặn quá”. Quê hương là mùi biển mặn nồng, quê hương là con nước xanh, là màu cá bạc, là cánh buồm vôi. Màu của quê hương là những màu tươi sáng nhất, gần gũi nhất. Tế Hanh yêu nhất những hương vị đặc trưng quê hương đầy sức quyến rũ và ngọt ngào. Chất thơ của Tế Hanh bình dị như con người ông, bình dị như những người dân quê ông, khoẻ khoắn và sâu lắng. Từ đó toát lên bức tranh thiên nhiên tươi sáng, thơ mộng và hùng tráng từ đời sống lao động hàng ngày của người dân. Bài thơ đem lại ấn tượng khó phai về một làng chài cách biển nửa ngày sông, lung linh sóng nước , óng ả nắng vàng. Dòng sông, hồn biển ấy đã là nguồn cảm hứng theo mãi Tế Hanh từ thuở “hoa niên” đến những ngày tập kết trên đất Bắc. Vẫn còn đó tấm lòng yêu quê hương sâu sắc, nồng ấm của một người con xa quê Tôi dang tay ôm nước vào lòng Sông mở nước ôm tôi vào dạ Chúng tôi lớn lên mỗi người mỗi ngả Kẻ sớm hôm chài lưới ven sông Kẻ cuốc cày mưa nắng ngoài đồng Tôi cầm súng xa nhà đi kháng chiến Nhưng lòng tôi như mưa nguồn gió biển Vẫn trở về lưu luyến bến sông Nhớ con sông quê hương – 1956 Với tâm hồn bình dị, Tế Hanh xuất hiện trong phong trào Thơ mới nhưng lại không có những tư tưởng chán đời, thoát li với thực tại, chìm đắm trong cái tôi riêng tư như nhiều nhà thơ thời ấy. Thơ Tế Hanh là hồn thi sĩ đã hoà quyện cùng với hồn nhân dân, hồn dân tộc, hoà vào “cánh buồm giương to như mảnh hồn làng”.“Quê hương” – hai tiếng thân thương, quê hương – niềm tin và nỗi nhơ,ù trong tâm tưởng người con đấùt Quảng Ngãi thân yêu – Tế Hanh – đó là những gì thiêng liêng nhất, tươi sáng nhất. Bài thơ với âm điệu khoẻ khoắn, hình ảnh sinh động tạo cho người đọc cảm giác hứng khởi, ngôn ngữ giàu sức gợi vẽ lên một khung cảnh quê hương “rất Tế Hanh. Phân Tích Bài Thơ Quê Hương Của Tế Hanh Vào bài Tế Hanh là nhà thơ có mặt trong phong trào Thơ Mới chặng cuối. Thơ Tế Hanh là một hồn thơ lãng mạn. Tế Hanh được biết đến nhiều nhất như một nhà thơ của quê hương, gắn bó máu thịt với quê hương. Cái làng chài ven biển có dòng sông bao quanh, nơi Tế Hanh được sinh ra, luôn đau đáu trong nỗi nhớ thương của Tế Hanh, gợi những nguồn cảm hứng vô tận cho thơ ông, giúp ông viết nên những vần thơ hay nhất, đẹp nhất. Quê hương là một trong những vần thơ như vậy. I. Tìm hiểu chung 1. Tác giả – Tế Hanh sinh năm 1921, quê Quảng Ngãi. – Tế Hanh được mệnh danh là nhà thơ của quê hương. – Bài thơ Quê hương được in trong tập Hoa niên 1945. 2. Đọc văn bản và tìm hiểu bố cục bài thơ Bài thơ thuộc thể thơ tự do, câu 8 chữ. Đọc với giọng vui, khoẻ; khổ cuối đọc với giọng trầm lắng, da diết hơn. Bố cục 8 câu đầu giới thiệu chung về “làng tôi” và cảnh dân chài ra khơi; 8 câu tiếp theo là cảnh thuyền cá về bến; khổ cuối bộc lộ tình cảm của tác giả đối với quê hương. II. Phân Tích 1. Tám câu thơ đầu Cảnh dân chài bơi thuyền đi đánh cá. – Đoàn thuyền ra khơi trong một buổi bình minh đẹp, khoáng đạt bầu trời cao rộng, trong trẻo được điểm bởi những tia nắng hồng rực rỡ. Chỉ một câu thơ Khi trời trong, gió nhẹ, sớm mai hồng, tác giả đã vẽ được một không gian rộng lớn, vô tận. – Nổi bật giữa không gian êm ả ấy, đoàn thuyền băng mình ra khơi với khí thế dũng mãnh của một con tuấn mã. Hình ảnh so sánh và một loạt các động từ mạnh đã làm toát lên sức sống mạnh mẽ và vẻ đẹp hùng tráng, bất ngờ của những con người lao động. – Hình ảnh cánh buồm căng gió vốn mang một vẻ đẹp lãng mạn, có thể quan sát được, bất ngờ được so sánh với hồn làng là những gì lớn lao, thiêng liêng, phi vật thể. Sự so sánh này không làm cho cánh buồm được miêu tả cụ thể hơn nhưng nó đã gợi nên một vẻ đẹp mới, lớn lao, thiêng liêng, vừa thơ mộng, vừa hùng tráng. Biểu hiện linh hồn làng chài bằng hình ảnh cánh buồm trắng no gió biển khơi là một sáng tạo độc đáo của Tế Hanh. – Với âm điệu mạnh mẽ, sôi nổi, bằng những hình ảnh so sánh độc đáo, tám câu thơ đầu vừa vẽ ra một bức tranh thiên nhiên tươi sáng, vừa khắc hoạ đậm nét bức tranh lao động khoẻ khoắn, đầy sức sống của người dân nơi biển cả. 2. Tám câu thơ tiếp theo Cảnh thuyền cá về bến – Cảnh dân chài đón thuyền cá về bến cũng là một bức tranh lao động náo nhiệt, đầy ắp niềm vui và sự sống. – Bốn câu thơ miêu tả người dân chài và con thuyền nằm nghỉ trên bến sau chuyến ra khơi là những câu thơ đặc sắc nhất, tinh tế nhất của bài Quê hương. Hình ảnh người dân chài vừa nổi bật với vẻ đẹp ngoại hình rắn rỏi, vạm vỡ “làn ra ngăm rám nắng”, vừa gợi mở vẻ đẹp của một tâm hồn mộc mạc, đằm thắm, mặn mà – vẻ đẹp của biển cả. Đó là một vẻ đẹp vừa chân thực vừa lãng mạn. Hai câu thơ vừa tả thực vừa gợi cho người đọc những liên tưởng sâu xa, thú vị. – Hai câu thơ tả chiếc thuyền nghỉ ngơi trên bến cũng là một sáng tạo độc đáo của Tế Hanh. Tác giả không chỉ nhìn thấy mà còn cảm nhận thấy “sự mệt mỏi say sưa” của con thuyền. Con thuyền vô tri đã trở thành một tâm hồn tinh tế không kém chủ nhân của nó. Sau bao ngày tháng lênh đênh, miệt mài trên biển, giờ đây, nó đang nằm và lắng nghe chất muối mặn mòi của biển thấm dần vào từng thớ vỏ, như một người lao động đang nằm và ngẫm nghĩ lại cả chặng đường vất vả, những giọt mồ hôi mà mình đã đổ xuống để có được thành quả lao động như ngày hôm nay. – Trong cách miêu tả của Tế Hanh, ta thấy có sự gắn bó làm một giữa thiên nhiên cuộc sống với tâm hồn con người nơi đây. Và dù tác giả không biểu lộ trực tiếp tình cảm của mình nhưng trong cách miêu tả của ông, người đọc cảm nhận được sợi dây tình cảm thiêng liêng sâu nặng nối liền tâm hồn ông với thiên nhiên, cuộc sống và con người nơi đây. Không phải là một người con yêu dấu của quê hương, không yêu quê hương bằng tình yêu máu thịt và không có sự tinh tế tài hoa của một nhà nghệ sĩ thì không thể viết được những câu thơ sâu xa, xúc động như vậy. 3. Khổ thơ cuối Tình cảm nhớ thương quê hương của tác giả – Quê hương được viết trong xa cách, trong niềm thương nhớ khôn nguôi của tác giả. Nỗi nhớ được nói lên một cách giản dị, tự nhiên, chân thành mà sâu sắc. Tế Hanh nhớ tất cả, từ màu nước xanh, cá bạc, cánh buồm vôi… rồi cuối cùng hội tụ lại ở cái mùi nồng mặn. Cái mùi nồng mặn, trong tâm tưởng nhà thơ, chính là hồn thơm, hồn thiêng của quê hương. Những tưởng không có cách nào diễn tả tình yêu và nỗi nhớ quê giản dị mà sâu sắc, xúc động hơn nữa vậy. 4. Vài nét đặc sắc nghệ thuật của bài thơ – Tuy phần lớn số câu thơ là câu miêu tả, song toàn bộ hình ảnh miêu tả đó đều nằm trong dòng tưởng nhớ, trong tình yêu quê hương da diết của chủ thể trữ tình. Vì vậy, miêu tả chỉ là một yếu tố phục vụ cho biểu cảm. Hơn nữa, tình cảm của một người con xa quê, nhớ quê luôn đầy ắp sau mỗi câu chữ, hình ảnh; thổi linh hồn vào từng câu chữ, hình ảnh làm cho bức tranh quê hương mang một vẻ đẹp lớn lao, bất ngờ và đầy lãng mạn. – Nét nghệ thuật đặc sắc nhất của bài thơ Quê hương là ở sự sáng tạo hình ảnh thơ. Bài thơ khá phong phú hình ảnh. Các hình ảnh ở đây vừa chân xác, cụ thể, vừa độc đáo, bay bổng, lãng mạn, có khả năng gợi ra những trường liên tưởng phong phú ở người đọc. III. Tổng Kết – Nội dung Quê hương đã khắc hoạ được bức tranh tươi sáng, khoẻ khoắn, đầy sức sống về cuộc sống lao động của một làng quê miền biển, qua đó thể hiện tình yêu quê hương tha thiết, đằm thắm của tác giả. – Nghệ thuật Bài thơ bình dị, giọng thơ mộc mạc, chân thành, hình ảnh thơ giàu tính sáng tạo và gợi cảm. Quê Hương Và Mảnh Hồn Làng – Tác Giả Tế Hanh Tế Hanh tên thật là Trần Tế Hanh, sinh ngày 20-6-1921 tại thôn Đông Yên, xã Bình Dương, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi. Làng quê của Tế Hanh là một vùng sông nước nằm ven bờ hạ lưu sông Trà Bồng, con sông đã “tắm mát” đời ông. Đây cũng chính là nơi tạo nên nguồn cảm hứng để ông sáng tác những bài thơ nổi tiếng về sông nước quê hương như Quê hương, Nhớ con sông quê hương… Hoài Thanh – Hoài Chân trong “Thi nhân Việt Nam” viết “Thơ Tế Hanh đưa ta vào một thế giới rất gần gũi thường ta chỉ thấy một cách mờ mờ, cái thế giới những tình cảm ta đã âm thầm trao cho cảnh vật…”. Hay nói cách khác cái tình quê da diết của Tế Hanh đã làm nên “mảnh hồn làng” trong bài thơ “Quê hương”. Bài thơ đã được viết bằng tất cả tấm lòng yêu mến quê hương, yêu thiên nhiên thơ mộng, yêu mến những con người lao động cần cù. Làng tôi ở vốn làm nghề chài lưới Nước bao vây cách biển nửa ngày sông Tế Hanh giới thiệu về quê hương mình bằng những câu thơ chân mộc, hồn nhiên vậy mà, khi đọc lên không ai lại không cảm thấy nao lòng khi nghĩ về làng quê của mình với hình ảnh một “con sông quê hương” cuồn cuộn chảy trong tâm thức thi nhân với biết bao hồi ức chất đầy nỗi nhớ thương cồn cào, se thắt Quê hương tôi có con sông xanh biếc Nước gương trong soi tóc những hàng tre. Và con sông quê đó đã dẫn người dân chài ra biển lớn Khi trời trong, gió nhẹ, sớm mai hồng Dân trai tráng bơi thuyền đi đánh cá. Buổi bình minh thật đẹp, có những chàng trai cường tráng, khỏe mạnh “bơi thuyền đi đánh cá”. Khung cảnh làng quê như đang mở ra trước mắt chúng ta trong thời khắc tươi đẹp của buổi sớm mai hồng, không gian rộng mở, thanh thoát “trời trong – gió nhẹ”. Tất cả như báo hiệu cho ngày mới bắt đầu với bao nhiêu hi vọng. Một ngày mới với tinh thần hăng hái, phấn chấn của biết bao nhiêu con người trên những chiếc thuyền ra khơi bình yên hứa hẹn những mẻ lưới bội thu. Chiếc thuyền nhẹ hăng như con tuấn mã Phăng mái chèo mạnh mẽ vượt trường giang Nếu như những câu trên miêu tả cảnh vật thì hai câu thơ này đặc tả bức tranh đầy hứng khởi và dạt dào sức sống của con người trong buổi ra khơi. Câu thơ khiến ta hình dung những thân hình vạm vỡ, mạnh mẽ đang cùng chiếc thuyền lướt nhanh ra biển. Tất cả như tiềm tàng sức sống mãnh liệt của làng chài nhỏ bé của nhà thơ. Chiếc thuyền được so sánh với “con tuấn mã” bỗng trở nên đẹp lạ lùng, mạnh mẽ hơn, thể hiện niềm vui và phấn khởi của những người dân chài. Những động từ “hăng”, “phăng”, “vượt” diễn tả đầy ấn tượng khí thế băng tới vô cùng dũng mãnh của con thuyền toát lên một sức sống tràn đầy nhiệt huyết, lướt nhẹ tênh trên ngọn sóng bạc đầu thẳng tiến trùng khơi, đầy khí thế. Mái chèo “phăng” xuống nước vừa nhịp nhàng vừa mạnh mẽ là động tác của các chàng trai đang hăm hở đi chinh phục biển cả. Có thể nói đây là một chuyến ra khơi đầy hào hứng. Những câu thơ miêu tả trực tiếp cảnh dân làng đi đánh cá vừa thực vừa lãng mạn giúp người đọc hình dung được hình ảnh đoàn thuyền khá sinh động. Đặc biệt là cánh buồm trong tư thế hùng tráng Cánh buồm giương to như mảnh hồn làng Rướn thân trắng bao la thâu góp gió… Từ hình ảnh của thiên nhiên, tác giả đã liên tưởng đến hồn người, phải là một tâm hồn nhạy cảm trước cảnh vật, một tấm lòng gắn bó với quê hương làng xóm Tế Hanh mới có thể viết được như vậy. Cánh buồm trắng vốn là hình ảnh quen thuộc nay trở nên lớn lao trước thiên nhiên. Cánh buồm trắng thâu gió vượt biển khơi như hồn người đang hướng tới tương lai tốt đẹp. Có lẽ nhà thơ chợt nhận ra rằng linh hồn của quê hương đang nằm trong cánh buồm. Hình ảnh thơ vừa thơ mộng vừa hiện thực đã vẽ nên chính xác hình thể vừa gợi được linh hồn của sự vật. “Mảnh hồn làng” trong thơ Tế Hanh bình dị và trong trẻo đến lạ lùng. Chẳng phải là những hình tượng thơ hoành tráng, lớn lao mà giản dị, lặng lẽ, khiêm nhường như chính cái hồn thơ đôn hậu, tinh tế, trong trẻo của ông. “Mảnh hồn làng” ấy đã ăn sâu trong tâm thức của thi nhân để trở thành một thứ tâm cảm, một thứ tâm linh dào dạt và sâu lắng, tha thiết mà ngọt ngào để rồi sau này dù sống dằn dặt xa quê nhưng vẫn luôn cháy bỏng khát khao Mảnh vườn xưa cây mỗi ngày mỗi xanh Bà mẹ già tóc mỗi ngày mỗi bạc Hai ta ở hai đầu công tác Có bao giờ cùng trở lại vườn xưa? Vườn xưa Nếu cảnh ra khơi hăng hái khí thế thì cảnh trở về với niềm vui ấm áp tình người. Trên bến đỗ, người dân đón ghe về như ngày hội bởi lẽ sau một ngày ra khơi xa, họ mong trở về bình yên đoàn tụ. Cả đoạn thơ là khung cảnh quê hương và dân chài trở về sau một chuyến ra khơi, thể hiện được một nhịp sống hối hả của những con người năng động trong là sự phấn khởi với bao kết quả tốt đẹp Ngày hôm sau ồn ào trên bến đỗ Khắp dân làng tấp nập đón ghe về Nhờ ơn trời, biển lặng, cá đầy ghe Những con cá tươi ngon thân bạc trắng. Những tính từ “ồn ào”, “tấp nập” toát lên không khí đông vui, hối hả đầy sôi động của cánh buồm đón ghe cá trở về. Người đọc như thực sự được sống trong không khí ấy, được nghe lời cảm tạ chân thành đất trời đã sóng yên, biển lặng để người dân chài trở về an toàn và cá đầy ghe, được nhìn thấy “những con cá tươi ngon thân bạc trắng”. Tế Hanh không miêu tả công việc đánh bắt cá như thế nào nhưng ta có thể tưởng tượng được đó là những giờ phút lao động không mệt mỏi để đạt được thành quả như mong đợi. Một khung cảnh thật náo nức thanh bình, mang dáng vẻ ấm no đang bao phủ khắp làng, thẳm sâu trong tâm khảm người dân là lòng biết ơn thiêng liêng, mang ý nghĩa tâm linh sâu sắc “Nhờ ơn trời biển lặng cá đầy ghe”. Sau chuyến ra khơi là hình ảnh con thuyền và con người trở về trong ngơi nghỉ Dân chài lưới làn da ngăm rám nắng Cả thân hình nồng thở vị xa xăm Chiếc thuyền im bến mỏi trở về năm Nghe chất muối thấm dần trong thớ vỏ. Dường như trong niềm vui thu hoạch “cá đầy ghe” ấy, đây mới là lúc ta được dịp ngắm nhìn những người đánh cá vừa mới trở về. Họ hiện ra trong dáng vẻ vạm vỡ, từng trãi “làn da ngăm rám nắng/ Cả thân hình nồng thở vị xa xăm”. Câu thơ thật đẹp, vừa lãng mạn vừa tả thực, hình ảnh “làn da ngắm rám nắng” hiện lên để lại dấu ấn vô cùng đẹp đẽ. Những người đánh cá như mang theo hơi thở, mùi vị của biển cả. Họ chính là những sinh thể của đại dương, họ là những đứa con của biển. Câu thơ có tầm vóc đó cho thấy cách cảm nhận tài hoa, khỏe khoắn của tác giả. Với con người là vậy, còn với những con thuyền thì sao? Chúng cũng được nhân hóa như một sinh thể sống động “nằm” yên lặng như thể đang nghỉ ngơi, thư giãn sau một ngày vật lộn với sóng gió. Cụm từ “im bến mỏi” là một sự kết hợp thật đẹp, cô đúc tối đa mà lại rất gợi. Có thể nói câu thơ đã chỉ ra được trạng thái thư giãn, hài lòng với chuyến ra khơi vừa qua của con thuyền. Cho nên, con thuyền mới “nghe”, mới cảm nhận vị muối của biển như tỏa lan trong từng thớ gỗ. Con thuyền trở nên có hồn hơn, nó không còn là một vật vô tri vô giác nữa mà đã trở thành người bạn của ngư dân. Hai câu thơ vừa đẹp trong cách hình dung, vừa thấy được vẻ yên lặng thanh bình, vừa như gặp đâu đây những thư thái mãn nguyện. Có thể nói rằng đây chính là những câu thơ hay nhất, tinh tế nhất của bài thơ mang theo cái cả linh hồn và tầm vóc của con người biển cả. Tế Hanh đã tinh tế đưa vào thơ của mình hình ảnh sinh hoạt trong cuộc sống của quê hương Cảnh tấp nập ghe thuyền cá đầy khoang trên bến đỗ, những con thuyền như tuấn mã căng cánh buồm vôi trắng bạc lộng gió trên biển xanh mênh mông như mảnh hồn làng của ngư phủ giữa sóng nước đại dương. Hình ảnh những con thuyền nằm im bến mỏi sau chuyến ra khơi… Và, cả cái mùi nồng mặn quá của một làng chài. Chính vì vậy, thơ Tế Hanh gần gũi, quen thân với người yêu thơ. Không phải người con làng chài thì không thể viết hay như thế, tinh như thế, và cũng chỉ viết được những câu thơ như vậy khi tâm hồn Tế Hanh hoà vào cảnh vật cả hồn mình để lắng nghe. Có lẽ, chất mặn mòi kia cũng đã thấm sâu vào da thịt nhà thơ, vào tâm hồn nhà thơ để trở thành nỗi niềm ám ảnh gợi bâng khuâng kì diệu. Nét tinh tế, tài hoa của Tế Hanh là ông “nghe thấy cả những điều không hình sắc, không âm thanh như “mảnh hồn làng” trên “cánh buồm giương”… Hồn quê trong thơ Tế Hanh chính là kết tinh của “mảnh hồn làng” và đó là cái làm nên giá trị của thơ ông. Nó đã ôm ấp không chỉ sông biển quê hương, con đường quê với những ngày nghỉ học, những vườn xưa lối cũ và cả hình ảnh của những con người dân quê lam lũ “Sớm khuya chài lưới bên sông / Kẻ cuốc cày mưa nắng ngoài đồng”… Nói lên tiếng nói từ tận đáy lòng mình là lúc nhà thơ bày tỏ tình cảm của một người con xa quê hướng về quê hương, về đất nước Nay xa cách lòng tôi luôn tưởng nhớ Màu nước xanh, cá bạc, chiếc thuyền vôi Thoáng con thuyền rẽ sóng chạy ra khơi Tôi thấy nhớ cái mùi nồng mặn quá Nhà thơ đang xa quê nhưng vẫn hình dung được một khung cảnh sống động của làng quê như đang ở trước mắt. Ta có thể nhận ra rằng quê hương luôn nằm trong tiềm thức nhà thơ, quê hương luôn hiện hình trong từng suy nghĩ, từng dòng cảm xúc. Nỗi nhớ quê hương thiết tha bật ra thành những lời nói vô cùng giản dị “Tôi thấy nhớ cái mùi nồng mặn quá”. Nghĩ đến quê hương là nhà thơ nhớ đến ngay cái mùi vị “nồng mặn” của quê hương, cái mùi vị ấy được gợi ra từ “nước xanh, cá bạc, cánh buồm vôi”. Tất cả làm nên vẻ đẹp của quê hương làng chài. Cái “mảnh hồn làng” của quê hương nhà thơ vừa có cái chung vừa không lẫn với bất cứ làng quê nào khác. Bài thơ “Quê Hương” của tác giả Trần Tế Hanh. Bài thơ thuộc tập Nghẹn Ngào 1939, danh mục thơ Tế Hanh Trần Tế Hanh một trong những Nhà Thơ Việt Nam Vĩ Đại Và Tiêu Biểu. Hãy cùng đọc và thưởng thức nhiều tác phẩm thơ ca khác, có rất nhiều bài thơ hay đang chờ các bạn! Các Bạn Đang Xem Bài Viết Bài Thơ “Quê Hương” – Tế Hanh Trần Tế Hanh Của Tác Giả Tế Hanh Trong Tập Nghẹn Ngào 1939 Tại Blog Truy Cập Blog Thường Xuyên Để Xem Nhiều Bài Viết Mới Hàng Ngày Nhé!
làng tôi vốn làm nghề chài lưới