đoạn trích đất nước

Đoạn trích "Đất nước" nằm trong bản trường ca "Mặt đường khát vọng", kêu gọi những tuổi trẻ sinh viên cùng tham gia hòa chung với cuộc kháng chiến của dân tộc. Mở bài 5. Giữa một dàn giao hưởng với những tiếng ca hùng tráng, thiết tha về Đất nước, người Đoạn trích Đất Nước được giảng dạy trong chương trình Văn học 12 giai đoạn 1990-2006 và Ngữ văn 12 từ 2007 đến nay. Tác phẩm nhiều lần được dùng trong đề thi đại học, đề thi THPT quốc gia, tốt nghiệp THPT những năm gần đây. Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi Đất Nước có trong những cái "ngày xửa ngày xưa" mẹ thường hay kể Đoạn trích "Đất Nước" thuộc chương V, gần tương đương với chương 3 trong một bản giao hưởng. Nhạc giao hưởng có nhiều dạng. Nhưng những bản giao hưởng ấn tượng nhất là những bản đã đưa được vào hình thức âm nhạc các vấn đề triết học và thân phận con người, niềm vinh quang và bi kịch của con người trong cuộc chiến chống lại định mệnh. Trong đoạn trích Đất Nước, Nguyễn Khoa Điềm có viết: Nhưng em biết không Có biết bao người con gái, con trai Trong bốn nhìn lớp người giống ta lứa tuổi Họ đã sống và chết Giản dị và bình tâm Không ai nhớ mặt đặt tên Nhưng họ đã làm ra Đất Nước Họ giữ và truyền cho ta hạt lúa ta trồng Họ chuyền lửa Les Belles Rencontres Se Font Partout Mais Surtout Ailleurs. Bài văn hay , phân tích bình giảng đoạn trích Đất nước, SGK Ngữ văn lớp 12. Đề bài Cảm nhận của anh/ chị về đoạn trích Đất nước, trích Trường ca Mặt đường khát vọng của nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm. Bài văn mẫu Trong đoạn thơ trữ tình – chính luận này, Nguyễn Khoa Điềm trình bày những cảm xúc và suy tưởng về đất nước dưới dạng một lời trò chuyện tâm tình. Mạch cảm hứng và liên tưởng có vẻ tự do, phóng túng như một thứ tuỳ bút thơ, nhưng thực ra, vẫn có một hệ thống lập luận khá chặt chẽ, tập trung thể hiện đất nước trên các bình diện chủ yếu sau đầy trong chiều dài thời gian lịch sử quá khứ – hiện tại – tương lai, trong chiều rộng không gian – địa lý, và trong bề dày của vãn hoá – phong tục, lối sống, tâm hồn và tính cách dân tộc. Ba phương diện này được thể hiện trong sự gắn bó, thống nhất. Nhưng ở bất cứ phương diện nào thì tư tưởng cốt lõi cũng là quan niệm “Đất Nước của Nhân dân”, đó cũng chính là hộ quy chiếu mọi xúc cảm, suy tưởng và nhờ đó mà tác giả đã có những phát hiện mới mẻ, đặc sắc, làm sâu sắc thêm cho ý niệm về đất nước của thơ ca thời kỳ chống Mỹ cứu nước. 2. Đoạn thơ Đất Nước không bắt đầu một cách trang trọng mà hết sức bình dị gần gũi Khi ta lớn Đất Nước đã có rồi Đất Nước có trong những cái “ngày xửa ngày xưa..” mẹ thường hay kể Đất Nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn Đất Nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc. Đất nước là những gì có thể bắt gặp ở ngay trong cuộc sống của mỗi gia đình,mỗi con người câu chuyện cổ tích của mẹ kể, miếng trầu của bà, hạt gạo của ta ăn, ngôi nhà ta ở. Để nói về lịch sử trường tồn của đất nước, nhà thơ đã không bắt đầu bằng việc đưa ra các sử liệu, mà bằng những gì rất gần gũi, quen thuộc trong đời sống của nhân dân, dược gợi ra từ những chất liệu của văn hoá dân gian, của ca dao, tục ngữ. Những câu thơ mở đầu gợi nhớ đến những truyền thuyết và cổ tích vào loại xa xưa nhất của dân tộc truyện Trầu cau, truyền thuyết Thánh Gióng, nền văn minh lúa nước đã hình thành từ thời Âu Lạc xa xưa và những tập quán phong tục lâu đời “Tóc mẹ thì bới sau đầu”. Đó chính là sự cảm nhận vẻ chiều sâu lịch sử của đất nước thể hiện ngay trong đời sống hằng ngày của nhân dó lá sự cảm nhận về đất nước trong sự thống nhất của các phương diện địa lý và lịch sử, không gian và thời gian. Ý niệm về đất nước được gợi ra từ việc chia tách hai yếu tố hợp thành là đất và nước với những liên tưởng gợi ra từ đó. Chúng ta biết là ở nhiều ngôn ngữ, từ đất nước thường dược cấu hành từ nhũng tù gốc là nơi sinh ; quê hương, quê cha. Ở đây, cách “chiết tự” này có thể gợi ra ,một cách quan niệm mang nhũng đặc điểm riêng của dân lộc về khái niệm đất nước mà tư duy thơ có thể tách ra, nhấn mạnh. Đất nước trường tồn trong không gian và thời gian “Thời gian đằng đẵng – Không gian mênh mông”. Huyền thoại Lạc Long Quân và Âu Cơ Con Rồng cháu Tiên, truyền thuyết Hùng Vương và ngày giỗ Tổ, đó là chiều dài lịch sử của đất nước. Về khổng gian địa lý, đất nước là núi sông, rừng và bể “con chim phượng hoàng bay về hòn núi bạc”, “con cá ngư ổng móng nước biến khơi”. Đất nước còn là cái không gian sinh tồn gần gũi với cuộc sống của mổi người “Đất là nơi anh đến trường – Nước là nơi em tắm – Đất Nước là nơi ta hò hẹn…”. Và tựu trung, đất nước trường tồn là ở con người truyền qua các thế hệ “Nhũng ai đi khuất – Những ai bây giờ – Yêu nhau và sinh con đẻ cái – Gánh vác phần người đi trước đế lại Dặn dò con cháu chuyện mai sau”. Trên chiều rộng của không gian địa lý và chiều dài của thời gian lịch sử, đất nước được thể hiện hiện lập trung trong các bình diện văn hoá – phong lục, truyền thống tinh thần của dân lộc, trong đời sống hằng ngày và trong những biến cố lịch sử. trong đời sống của mỗi cá nhân và trong cuộc sống của cả cộng đồng. Đây chính là cái nhìn toàn vẹn tổng hợp nhiều chiều của nhà thơ về đát nước. Mạch thơ dẫn đến những suy ngẫm về trách nhiệm của mỗi con người với đất nước , đây là cái đích , đồng thời cũng là điểm hôi tụ những cảm nhận về đất nước trong phần một của đoạn thơ. Trong anh và em hôm nay Đều có một phần Đất Nước Khi hai đứa cầm tay Đất Nước trong chúng ta hài hòa nồng thắm Khi chúng ra cầm tay mọi người Đất Nước vẹn tròn, to lớn Mai này con ta lớn lên Con sẽ mang Đất Nước đi xa Đến những tháng ngày mơ mộng Em ơi em Đất Nước là máu xương của mình Phải biết gắn bó và san sẻ Phải biết hóa thân cho dáng hình xứ sở Làm nên Đất Nước muôn đời.. Lời nhắn nhủ thế hệ trẻ về trách nhiệm với đất nước không mang giọng “giáo huấn” mà như một lời tâm sự, tự nhủ chân thành từ đáy lòng nhà thơ. Tư tưởng cơ bản trong phần thứ hai của đoạn Đất Nước là quan niệm Đất Nước của Nhân dân. Thực ra, tư tưởng này đã thấm nhuần ở ngay phần đầu, nhưng được khơi sâu, phát triển thêm nhiều bình diện và làm nổi bật lên trong phần hai của đoạn thơ. Trở lại với bình điện không gian địa lý, nhà thơ góp một cách phát hiện mới và độc đáo về những thẳng cảnh thiên nhiên của đất nước đoạn từ “Những người vợ nhớ chồng…” đến “Những cuộc đời đã hoá núi sông ta”. Những cảnh quan kỳ thú của non sông gấm vóc núi Vọng Phu, đảo con cóc, con gà ở vịnh Hạ Long, hòn Trống Mải, núi Bút non Nghiên,… không chỉ là tặng vật của tạo hoá, thiên nhiên, mà đã gắn liền với cuộc sống con người; nó chỉ trở thành thắng cảnh qua sự cảm nhận của tâm hồn dân tộc, nên đã gắn liền với lịch sử dân tộc. Trong kho tàng văn học dân gian, có rất nhiều truyện cổ tích và câu ca dao gắn liền với những thắng cảnh thiên nhiên. Nếu không có những người vợ mòn mỏi trông đợi chồng qua những cuộc chiến tranh và ly tán thì cũng không thể có sự tích về những núi Vọng Phu ở nhiều nơi trên đất nước ta ; nếu không có truyền thuyết Hùng Vương dụng nước thì cũng không thể có cách cảm nhận đốc đáo về vẻ hùng vĩ của vùng đồi núi Phong Châu “Chín mươi chín con voi góp mình dựng đất Tổ Hùng Vương”. Điều đặc sắc là ở đây, cái nhìn của nhà thơ thấm sâu ý thức về nhân dân, về những con người bình thường đã góp phần mình làm nên đất nước người vợ nhớ chồng, cập vợ chồng yêu nhau, người học trò nghèo. Và cũng không chỉ ở những thắng cảnh mà ở khắp mọi nơi đều có sự góp phần tạo dựng của những người dân bình thường Những người dân nào đã góp tên Ông Đốc, Ông Trang, Bà Đen, Bà Điểm Và ở đâu trên khắp ruộng đồng gò bãi Chẳng mang một dáng hình, một ao ước, một lối sống ông cha Và tác giả dẫn tới một khái quát sâu sắc Ôi Đất Nước sau bốn nghìn năm đi đâu ta cũng thấy Những cuộc đời đã hoá núi sông ta… Khi nói về bốn nghìn năm lịch sử của đất nước, nhà thơ không điểm lại các triều đại, các anh hùng nổi tiếng mà trước hết nhắc đến vô vàn những lớp người vô danh bình dị Trong bốn nghìn lớp người giống ta lứa tuổi Họ đã sống và chết Giản dị và bình tâm Không ai nhớ mặt đặt tên Nhưng họ đã làm ra Đất Nước Những con người vô danh và bình dị đã gìn giữ và truyền lại cho các thế hệ sau mọi giá trị văn hoá, văn minh tinh thần và vật chất của dân tộc từ hạt lúa, ngọn iửa đến tiếng nói, ngôn ngữ dân tộc, cho đến cả tên làng,… Họ cũng là những người khi “Có ngoại xâm thì chống ngoại xâm – Có nội thù thì vùng lên đánh bại”. Mạch suy tưởng của tác giả dẫn đến tư tưởng trung tâm của đoạn thơ, cũng là hội tụ mọi xúc cảm của nhà thơ “Để Đất Nước này là Đất Nước của Nhân dân”. Và một cách tự nhiên, nhà thơ lại trở về với cội nguồn phọng phú, đẹp đẽ là văn hoá dân gian. Câu thơ với hai vế song song, đồng đẳng “Đất Nước Nhân dân, Đất Nước của ca dao thần thoại”, là một cách định nghĩa về đất nước, thật giản dị mà độc đáo. Bởi vẻ đẹp tâm hồn, truyền thống tinh thần của nhân dân, hơn ở đâu hết, có thể tìm thấy ở văn hoá dân gian, mà tiêu biểu là ở trong ca dao, dân ca, cổ tích, thần thoại,… Trong kho tàng phong phú của ca dao Việt Nam, ở đây, tác giả chọn ba câu để nói về những phương diện quan trọng nhất của truyền thống nhân dân, tâm hồn dân tộc Việt Nam thật say đắm thiết tha trong tình yêu “yêu em từ thuở trong nôi”, quý trọng tình nghĩa “Biết quý công cầm vàng những ngày lặn lội” nhưng cũng thật quyết liệt với kẻ thù “Biết trồng tre đợi ngày thành trả thù mà không sợ dài lâu.. Còn vẻ đẹp thơ mộng của núi sông Đất nước thì như được kết đọng trong những câu dân ca, nhất là dân ca trên sông nước, hay cũng có thể nói chính tâm hồn giàu chất thơ của dân tộc ta đã hoà nhập, soi bóng cùng vẻ đẹp của núi sông rất nên thơ “Ôi những dòng sông bắt nước từ đâu Mà khi về Đất Nước mình thì bắt lên câu hát – Người đến hát khi chèo đò, kéo thuyền vượt thác – Gợi tăm màu trên trăm dáng sông xuôi”. Tư tưởng “Đất Nước của Nhân dân” thực ra đã hình thành từ trong lịch sử dựng nước và giữ nước lâu dài của dân tộc ta. Nhưng chỉ đến thời kỳ hiện đại, đặc biệt là trong hai cuộc kháng chiến chống thực dận Pháp và chống đế quốc Mỹ, tư tưởng ấy mới được nhận thức sâu sắc hơn bởi quan niệm duy vật về lịch sử và đo vai trò to lớn, những hi sinh và đóng góp vô tận của nhân dân trong hai cuộc chiến tranh lâu dài và cực kỳ ác liệt. Văn học Việt Nam từ sau Cách mạng tháng Tám, nhất là trong thời kỳ chống đế quốc Mỹ, đã được sáng tạo dứới ánh sáng của tư tưởng nhân dân va cảm hứng về đât nứơc mang tính dân chủ sâu sắc Cũng trong chiều hướng tư tưởng chung của thời đại mình, các nhà thơ trẻ thời kỳ chống Mỹ cứu nước đã có những phát hiện làm sâu sắc thêm tư tưởng “Đất Nước của Nhân dân”, qua sự trải nghiệm củà chính mình, cùng chia sẻ những gian lao, hy sinh của nhân dân, và được sự chở che, đùm bọc của nhân dân. Các bài thơ của Nguyễn Duy Tre Việt Nam, Hơi ấm ổ rơm, của Phạm Tiến Duật Lửa đèn, những trường ca của Thanh Thảo Những người đi tới biển, Hữu Thỉnh Đường tới thành phô,… đều tập trung thể hiện hình ảnh nhân dân. Đất Nước của Nguyễn Khoa Điềm góp thêm một thành công trong dòng thơ về đất nước của thơ ca thời kỳ chống Mỹ cứu nước, làm sâu sắc thêm tư tưởng “Đất Nước của Nhân dân” của thời đại ấy. Đây là đoạn thơ trữ tình – chính luận. Cũng như toàn bộ trường ca Mặt đường khát vọng, đoạn thơ kết hợp được xúc cảm và suy nghĩ, chính luận và trữ tình. Tuy có lúc còn dàn trải, trùng lặp, thiếu cô đọng hoặc chính luận có khi còn lấn át xúc cảm, nhưng những thành công đặc sắc của đoạn thơ này là rất rõ, không chỉ ở nội dung tư tưởng mà còn cả ở những sáng tạo trong nghệ thuật thơ, trong việc sử dụng thi liệu sáng tạo hình ảnh. Tác giả đã sử dụng rộng rãi và sáng tạo các chất liệu của văn hoá dân gian – từ ca dao, tục ngữ, truyền thuyết và truyện cổ tích đến phong tục và sinh hoạt hằng ngày. Điều đó tạo cho đoạn thơ một không gian nghệ thuật riêng, mở ra một thế giới nghệ thuật hết sức quen thuộc, gần gũi mà lại mỹ lệ, bay bổng của văn hoá dân gian, kết tinh tâm hồn, trí tuệ nhân dân. Việc vận dụng văn hoá dân giạn ở đây không chỉ là một thủ pháp nghệ thuật, mà là sự thấm sâu của quan niệm “Đất Nước của Nhân dân” vào trong tư duy nghệ thuật và cảm hứng sáng tạo của nhà thơ. Nguyễn Văn Long Xem thêm Phân tích đoạn trích, tư tưởng đất nước của nhân dân, những cảm nhận mới mẻ về đất nước, những đề thi và bài văn hay về đoạn trích Đất nước Nguyễn Khoa Điềm Đất nước Nguyễn Khoa Điềm Đất nước nguyễn khoa điềm I. KIẾN THỨC CHUNG 1. Tác giả Nguyễn Khoa Điềm thuộc thế hệ các nhà thơ trẻ trưởng thành trong khói lửa của cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước. Thơ Nguyễn Khoa Điềm giàu chất trí tuệ, xúc cảm dồn nén và suy tư sâu lắng, thể hiện tâm tư của người trí thức về đất nước, con người Việt Nam. Nguyễn Khoa Điềm rất thành công với những sáng tác thơ về đề tài đất nước, tiêu biểu là trường ca " Mặt đường khát vọng " , trong đó có đoạn trích " Đất nước ". 2. Tác phẩm-Trường ca " Mặt đường khát vọng " được tác giả hoàn thành ở chiến khu Trị-Thiên năm 1971. Bản trường ca viết về sự thức tỉnh của tuổi trẻ đô thị vùng tạm chiếm miền Nam về non sông, đất nước, về sứ mệnh của thế hệ mình, xuống đường đấu tranh hòa nhịp với cuộc chiến đấu chống đế quốc Mĩ xâm ca " Mặt đường khát vọng " gồm 9 chương, đoạn trích " Đất nước " là phần đầu chương V của bản trường ca này. Đoạn trích là những suy nghĩ của tác giả về đất nước được nhìn trên nhiều góc độ, với tư tưởng chủ đạo là " Đất Nước của nhân dân ". II. KIẾN THỨC TÁC PHẨM 1. Chín câu thơ đầ u quá tri ̀ nh hi ̀ nh tha ̀ nh va ̀ phá t triể n cu ̉ a Đất Nước Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi Đất Nước có trong những cái " ngày xửa ngày xưa " mẹ thường hay kể. Đất Nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn Đất Nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc Tóc mẹ thì bới sau đầu Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn Cái kèo, cái cột thành tên Hạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, giần, sàng Đất Nước có từ ngày đó… Gợi ý phân tích a. Câu thơ mở đầu được nhà thơ viết theo thể câu khẳng định " Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi" Ngữ Văn 12 - ĐẤT NƯỚC NGUYỄN KHOA ĐIỀM - TƯ LIỆU VÀ LỜI BÌNHNgữ Văn 12 - ĐẤT NƯỚC NGUYỄN KHOA ĐIỀM - TƯ LIỆU VÀ LỜI BÌNHTôn Ngọc Minh QuânTài liệu được soạn ra nhằm giúp dễ dàng trong việc tìm kiếm tài liệu có liên quan đến các tác phẩm trong chương trình Ngữ Văn THPT, có sử dụng và tham khảo rất nhiều tư liệu trên Internet và chỉ mang tính chất tham khảo và hỗ trợ giảng dạy, mong mọi người không sử dụng cho mục đích thương mại. Tham khảo ngay sơ đồ tư duy Đất nước - Nguyễn Khoa Điềm, hệ thống kiến thức về bài thơ Đất nước ngắn gọn, dễ hiểu giúp học sinh lớp 12 học và ôn tập tốt môn Ngữ khảo sơ đồ tư duy Đất nước - Nguyễn Khoa Điềm dưới đây do Đọc tài liệu biên soạn để nắm được kiến thức về tác phẩm này một cách đầy đủ và khoa học, qua đó dễ dàng tiếp thu và vận dụng làm các dạng bài tập.***Giới thiệu chung về Nguyễn Khoa Điềm và bài thơ Đất nướcI. Tác giả Nguyễn Khoa Điềm - Nguyễn Khoa Điềm sinh năm 1943- Quê quán thôn Ưu Điềm, xã Phong Hòa, huyện Phong Điềm, tỉnh Thừa Thiên-Huế trong một gia đình trí thức có truyền thống yêu nước và cách mạng- Năm 1955, Nguyễn Khoa Điềm ra Bắc học tại trường học sinh miền Nam - Sau khi tốt nghiệp khoa Văn trường Đại học Sư phạm Hà Nội năm 1964, ông về Nam hoạt động trong phong trào học sinh, sinh viên thành phố, xây dựng cơ sở cách mạng, viết báo, làm thơ..- Sau ngày thống nhất đất nước, ông tiếp tục hoạt động chính trị và văn nghệ ở Thừa Thiên – Huế- Năm 2000, ông được nhận Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật- Nguyễn Khoa Điềm thuộc thế hệ các nhà thơ trong thời kì kháng chiến chống Mĩ, cứu nước- Tác phẩm chính Đất ngoại ô, Mặt đường khát vọng, Ngôi nhà có ngọn lửa ấm, Thơ Nguyễn Khoa Điềm, Cõi lặng- Phong cách thơ sự kết hợp giữa cảm xúc nồng nàn và suy tư sâu lắng của người tri thức về đất nước, con người Việt NaII. Bài thơ Đất nước1. Hoàn cảnh ra đời- Trường ca Mặt đường khát vọng được tác giả sáng tác năm 1971 tại chiến khu Trị - Thiên, viết về sự thức tỉnh của tuổi trẻ đô thị vùng tạm chiến miền Nam về non sông, đất nước, về sứ mệnh của thế hệ mình, xuống đường dấu tranh hòa nhịp với cuộc chiến đấu chống đế quốc Mĩ xâm Đoạn trích “Đất nước” thuộc phần đầu chương V của trường ca2. Bố cục 2 phần- Phần 1 từ đầu đến “Làm nên đất nước muôn đời” Đất nước bình dị, gần gũi được cảm nhận từ nhiều phương diện của đời sống- Phần 2 còn lại Tư tưởng đất nước của nhân dân3. Giá trị nội dungĐoạn trích thể hiện những cảm nhận mới mẻ của tác giả về đất nước qua những vẻ đẹp được phát hiện ở chiều sâu trên nhiều phương diện lịch sử, địa lí, văn hóa... Tư tưởng trọng tâm, bao trùm toàn bộ bài thơ là tư tưởng “Đất nước của nhân dân”4. Giá trị nghệ thuật- Giọng thơ trữ tình, chính trị, cảm xúc sâu lắng, thiết tha- Chất liệu văn hóa, văn học dân gian được sử dụng nhuần nhị, sáng tạo>> Có thể bạn cần Kiến thức bài Đất nước - Nguyễn Khoa ĐiềmSơ đồ tư duy Đất nước của Nguyễn Khoa ĐiềmSơ đồ tư duy phân tích bài thơ Đất nước - Nguyễn Khoa ĐiềmLuận điểm 1 Cảm nhận về đất nước từ nhiều phương diện lịch sử, văn hóa, chiều sâu của không gian, chiều dài của thời điểm 2 Tư tưởng cốt lõi Đất nước của Nhân chi tiết Phân tích bài thơ Đất nước của Nguyễn Khoa ĐiềmSơ đồ tư duy tư tưởng đất nước của nhân dânLuận điểm 1 Đất Nước của Nhân dân được thể hiện trong chiều dài thời gian lịch sửLuận điểm 2 Đất Nước của Nhân dân được thể hiện trong chiều rộng của không gian địa líLuận điểm 3 Đất Nước của Nhân dân được thể hiện trong chiều sâu văn hóaXem thêm Phân tích tư tưởng Đất nước của nhân dân trong bài Đất Nước Nguyễn Khoa ĐiềmSơ đồ tư duy cảm nhận 9 câu thơ đầu của bài thơ Đất nướcLuận điểm 1 Đất nước có từ bao giờ?Luận điểm 2Quá trình hình thành Đất nước?Xem thêm Cảm nhận 9 câu thơ đầu của bài thơ Đất nước****Trên đây là sơ đồ tư duy Đất nước - Nguyễn Khoa Điềm do Đọc tài liệu biên soạn. Hy vọng đây sẽ là tài liệu hữu ích giúp các em học và ôn tập môn Văn tốt hơn. Đừng quên tham khảo thêm nhiều bài văn mẫu 12 được cập nhật đầy đủ tại em nhé. Chúc các em luôn học tốt. Tổng hợp các dạng đề văn lớp 12 xoay quanh các tác phẩm đầy đủ các dạng đề đọc hiểu, đề văn phân tích, cảm nhận, nghị luận, … với hướng dẫn chi tiết giúp học sinh ôn tập đạt điểm cao trong các bài thi môn Ngữ văn lớp 12. 1. Dạng đề đọc – hiểu 2-3 điểm Câu 1 Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi “…Em ơi em Đất Nước là máu xương của mình Phải biết gắn bó và san sẻ Phải biết hóa thân cho dáng hình xứ sở Làm nên Đất Nước muôn đời…”. Trích đoạn trích Đất Nước của Nguyễn Khoa Điềm a. Tại sao từ “Đất Nước” được viết hoa? * Gợi ý trả lời Từ “Đất Nước ” được viết hoa – coi "Đất Nước" là một sinh thể, thể hiện sự tôn trọng, ngợi ca, thành kính, thiêng liêng khi cảm nhận về Đất Nước của nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm. b. Nêu biện pháp tu từ được sử dụng trong đoạn thơ? * Gợi ý trả lời – Biện pháp tu từ được sử dụng trong đoạn thơ trên là Điệp ngữ “phải biết’’, sử dụng nhiều từ chỉ mối quan hệ gắn bó như gắn bó, san sẻ, hóa thân.. Câu 2. Viết đoạn văn ngắn nêu cảm nhận của em về trách nhiệm của mình với quê hương, đất nước trong xã hội ngày nay? * Gợi ý trả lời Học sinh được quyền tự do đưa ra ý kiến riêng của mình, sau đó dùng lập luận để làm sáng rõ quan điểm của mình – Có thể làm bài dựa theo các ý sau Tích cực học tập, rèn luyện, tu dưỡng đạo đức, nhân cách; Tham gia các hoạt động ngoại khóa, phát triển lành mạnh về thể chất, tinh thần; Tích cực lao động, xây dựng, bảo vệ Tổ quốc; Phát huy văn hóa, truyền thống tốt đẹp của dân tộc; Sẵn sàng chiến đấu, hi sinh vì độc lập, chủ quyền quốc gia dân tộc khi Tổ quốc cần,.. Câu 3Chủ đề của Đất nước của Nguyễn Khoa Điềm? * Gợi ý trả lời – Chủ đề của Đất nước của Nguyễn Khoa Điềm là Đất Nước của nhân dân. 2. Dạng đề viết bài văn 4-6 điểm Đề 1 Phân tích bài thơ “Đất nước” của Nguyễn Khoa Điềm * Gợi ý trả lời 1. Mở bài – Giới thiệu về tác giả Nguyễn Khoa Điềm ông thuộc thế hệ nhà thơ chống Mĩ cứu nước, thơ ông là sự kết hợp giữa cảm xúc nồng nàn và chất triết lí, suy tư của người trí thức về đất nước, con người. – Giới thiệu về bài thơ Đất nước được trích trong trường ca Mặt đường khát vọng, là một bài thơ có chất triết lý sâu sắc, thể hiện tư tưởng “Đất nước của nhân dân”. 2. Thân bài Đất nước được cảm nhận từ phương diện lịch sử, văn hóa, chiều sâu của không gian, chiều dài của thời gian a. Đất nước có từ bao giờ? lí giải cội nguồn của đất nước 9 câu đầu – Tác giả khẳng định một điều tất yếu “Khi ta lớn lên đất nước đã có rồi”, điều này thôi thúc mỗi con người muốn tìm đến nguồn cội đất nước. – Đất nước bắt nguồn từ những điều bình dị, gần gũi trong đời sống của người Việt Nam từ xa xưa “ngày xửa ngày xưa” gợi nhớ đến câu mở đầu các câu chuyện dân gian, “miếng trầu” gợi nhớ tục ăn trầu của người Việt và truyện cổ tích trầu cau, “Tóc mẹ thì bới sau đầu” thói quen búi tóc của những người phụ nữ Việt Nam, “Thương nhau bằng gừng cay muối mặn” thói quen tâm lý, truyền thống yêu thương của dân tộc. – Đất nước trưởng thành cùng quá trình lao động sản xuất “cái kèo cái cột thành tên”, “một nắng hai sương”, quá trình đấu tranh chống giặc ngoại xâm. – Nhận xét Tác giả có cái nhìn mới mẻ về cội nguồn đất nước, đất nước bắt nguồn từ chiều sâu văn hóa, văn học, lịch sử và truyền thống dân tộc. b. Định nghĩa về đất nước 28 câu thơ tiếp theo – Về phương diện không gian địa lý + Tác giả tách riêng hai yếu tố “đất” và “nước” để suy tư một cách sâu sắc. + Đất nước là không gian riêng tư quen thuộc gắn với không gian sinh hoạt của mỗi con người “nơi anh đến trường”, “nơi em tắm”; gắn với kỉ niệm tình yêu lứa đôi “nơi em đánh rơi … thương thầm”. + Đất nước là không gian bao la trù phú, không gian sinh tồn của cộng đồng qua bao thế hệ “Đất là nơi con chim phượng hoàng … dân mình đoàn tụ”. – Nhìn đất nước được nhìn xuyên suốt chiều dài lịch sử từ quá khứ, hiện tại đến tương lai + Trong quá khứ đất nước là nơi thiêng liêng, gắn với truyền thuyết, huyền thoại “Đất là nơi chim về … trong bọc trứng” + Trong hiện tại đất nước có trong tấm lòng mỗi con người, mỗi người đều thừa hưởng những giá trị của đất nước, khi có sự gắn kết giữa mỗi người đất nước sẽ nồng thắm, hài hòa, lớn lao. Đó là sự gắn kết giữa cái riêng và cái chung. + Trong tương lai thế hệ trẻ sẽ “mang đất nước đi xa” “đến những ngày mơ mộng”, đất nước sẽ trường tồn, bền vững. – Suy tư về trách nhiệm của mỗi cá nhân với đất nước “Phải biết gắn bó và san sẻ”, đóng góp, hy sinh để góp phần dựng xây đất nước. – Nhận xét qua cái nhìn toàn diện của nhà thơ, đất nước hiện lên vừa gần gũi, thân thuộc lại vừa thiêng liêng, hào hùng và trường tồn đến muôn đời sau. Tư tưởng cốt lõi, cảm nhận về đất nước đất nước của nhân dân – Thiên nhiên địa lý của đất nước không chỉ là sản phẩm của tạo hóa mà được hình thành từ phẩm chất và số phận của mỗi người, là một phần máu thịt, tâm hồn con người + Nhờ tình nghĩa yêu thương, thủy chung mà có “hòn Vọng Phu”, “hòn Trống Mái” + Nhờ tinh thần bất khuất, anh hùng trong quá trình dựng nước và giữ nước mà có những ao đầm, di tích lịch sử về quá trình dựng nước. + Nhờ truyền thống hiếu học mà có những “núi Bút non Nghiên” – Nhân dân làm nên lịch sử 4000 năm + Họ là những người con trai, con gái bình dị nhưng luôn thường trực tình yêu nước. + Tác giả nhấn mạnh đến những con người vô danh làm nên lịch sử, khẳng định vai trò của mỗi cá nhân với lịch sử dân tộc. – Nhân dân tạo ra và giữ gìn những giá trị vật chất, tinh thần cho đất nước văn hóa “truyền hạt lúa”, “truyền lửa”, “truyền giọng nói”, “gánh theo tên xã, tên làng”, … từ đó xây dựng nền móng phát triển đất nước lâu bền. – Tư tưởng cốt lõi, cảm hứng bao trùm cả đoạn trích “đất nước này là đất nước của nhân dân đất nước của ca dao thần thoại”, đất nước ấy thể hiện qua tâm hồn con người biết yêu thương, biết quý trọng trọng tình nghĩa, công sức và biết chiến đấu vì đất nước. – Nhận xét + Về nội dung đoạn trích “Đất nước” đã thể hiện cái nhìn mới mẻ về đất nước trên nhiều bình diện văn hóa, lịch sử, địa lí dựa trên tư tưởng cốt lõi “đất nước của nhân dân”. + Về nghệ thuật sử dụng đa dạng và sáng tạo chất liệu văn hóa dân gian, ngôn ngữ giàu chất suy tư, triết luận sâu sắc. 3. Kết bài – Khẳng định lại giá trị của đoạn trích đoạn trích đã nhấn mạnh tư tưởng “đất nước của nhân dân”, thể hiện tinh thần yêu nước của tác giả, đánh thức tinh thần yêu nước trong mỗi con người. – Nêu cảm nhận riêng về đoạn trích đất nước và có liên hệ thực tiễn đến trách nhiệm của thế hệ hôm nay với đất nước. Đề 2 Phân tích 9 câu thơ đầu bài “Đất nước” của Nguyễn Khoa Điềm * Gợi ý trả lời 1. Mở bài – Giới thiệu tác giả Nguyễn Khoa Điềm, đoạn thơ Đất nước và 9 câu thơ đầu. 2. Thân bài – "Khi ta lớn lên, đã có rồi" Đất Nước ra đời từ rất xa xưa như một sự tất yếu, trong chiều sâu của lịch sử thời các vua Hùng dựng nước và giữ nước. – "Ngày xửa ngày xưa, mẹ thường hay kể" những câu chuyện cổ tích, những bài học đạo lý làm người, ước mơ khát vọng của nhân dân về lẽ công bằng → góp phần tạo nên Đất nước. – "Miếng trầu" phong tục ăn trầu của dân gian gắn với ta nhiều đời nay và gợi nhớ sự tích Trầu cau. -"Biết trồng tre mà đánh giặc" gợi nhớ truyền thống chống giặc ngoại xâm và truyền thuyết đầy tự hào của người Việt và truyền thuyết về người anh hùng Thánh Gióng. – "Tóc mẹ bới sau đầu" những phong tục lâu đời của người Việt, người phụ nữ để tóc dài và bới lên. – "Cha mẹ, gừng cay muối mặn" gắn với câu ca dao của dân tộc, nói về tình cảm thủy chung của người Việt. – "Cái kèo, cái cột, hạt gạo, xay, giã, giần, sàng" những vật quen thuộc trong đời sống hằng ngày của người Việt Nam gắn với lao động sản xuất và nền văn minh lúa nước. → Đất Nước là những gì có thể bắt gặp ở ngay trong cuộc sống của mỗi gia đình, mỗi người câu chuyện cổ tích của mẹ, miếng trầu bà ăn, hạt gạo ta ăn, ngôi nhà ta ở…. – "Đất Nước có từ ngày đó" Đất Nước có từ khi dân mình biết yêu thương, sống tình nghĩa, từ ngày dân tộc có nền văn hóa riêng, từ khi dân mình biết dựng nước và giữ nước, từ trong cuộc sống hằng ngày của con người. → Sự cảm nhận về chiều sâu của lịch sử của Đất Nước thể hiện ngay trong đời sống hằng ngày của nhân dân. Đất Nước được hình thành từ những gì nhỏ bé, gần gũi trong cuộc sống của mỗi con người, từ bề dày của truyền thống văn hóa của dân tộc Việt Nam. 3. Kết bài – Tổng kết về nội dung, nghệ thuật và nêu cảm nhận về đoạn trích. Đề 3 Phân tích tư tưởng Đất nước nhân dân trong bài thơ “Đất nước” của Nguyễn Khoa Điềm * Gợi ý trả lời 1. Mở bài – Giới thiệu đôi nét về tác giả Nguyễn Khoa Điềm và tác phẩm Đất nước. – Giới thiệu về vấn đề cần phân tích tư tưởng Đất nước của nhân dân 2. Thân bài Quan điểm đất nước qua mỗi thời đại – Thời trung đại đất nước là của vua, lãnh thổ gắn với quyền cai trị của vua. – Thời cận đại “Dân là dân nước, nước là nước dân” Phan Bội Châu, nhưng còn mang nặng tư tưởng phong kiến phương Đông và hệ tư tưởng tư sản. – Thời hiện đại Đất nước của đại đa số quần chúng nhân dân. Chứng minh tư tưởng đất nước của nhân dân * Đất nước của nhân dân được thể hiện ở chiều rộng lãnh thổ. – Không gian thân thương gắn với những kỉ niệm của tình yêu đôi lứa “Đất là nơi em đến trường Nước là nơi em tắm Đất Nước là nơi ta hò hẹn” – Đất nước là không gian sinh tồn của cộng đồng người Việt qua các thế hệ được tạo lập từ thuở sơ khai với truyền thuyết “Đất là nơi chim về Nước là nơi rồng ở…” * Đất nước của nhân dân được thể hiện ở chiều dài của lịch sử – Đất nước được làm nên bởi những con người bình dị vô danh nhưng lại hết sức lớn lao phi thường. – Những con người vô danh ấy đã làm nên giá trị vật chất và giá trị tinh thần truyền lại cho con cháu “hạt lúa” là biểu tượng của những giá trị vật chất và biểu tượng của nền văn minh lúa nước. “truyền lửa” ngọn lửa của văn minh, của nhiệt tình cách mạng và của lòng yêu nước và niềm tin. “giọng nói” là ngôn ngữ của một dân tộc, là linh hồn, sự tồn tại của một quốc gia, giá trị tinh thần quý giá. * Đất nước của nhân dân được thể hiện trong chiều sâu văn hóa – Những truyền thống lâu đời tục ăn trầu của bà. thói quen bới tóc của mẹ. say đắm và thủy chung trong tình yêu. biết quý trọng nghĩa tình. quyết liệt với kẻ thù. Nghệ thuật – Giọng điệu thủ thỉ tâm tình. – Những hình ảnh quen thuộc gần gũi. – Sử dụng chất liệu văn hóa dân gian ca dao, tục ngữ, hình ảnh… 3. Kết bài Tư tưởng đất nước của nhân dân thể hiện giá trị nhân văn cao đẹp. Đề 4 Phân tích hình tượng "đất nước" trong hai bài thơ cùng tên của Nguyễn Khoa Điềm và Nguyễn Đình Thi * Gợi ý trả lời a. Mở bài – Giới thiệu khái quát về hai bài thơ Đất nước của Nguyễn Đình Thi và Đất Nước của Nguyễn Khoa Điềm. – Giới thiệu vấn đề nghị luận Hình tượng đất nước trong hai bài thơ. b. Thân bài – Làm rõ đối tượng thứ nhất Hình tượng đất nước trong bài Đất nước của Nguyễn Đình Thi. – Làm rõ đối tượng thứ 2 Hình tượng đất nước trong bài Đất nước của Nguyễn Khoa Điềm. – So sánh Nét tương đồng và khác biệt giữa hai đối tượng trên cả hai bình diện nội dung và hình thức nghệ thuật – Những đặc điểm giống nhau về hình tượng đất nước của 2 bài thơ – Nguyễn Đình Thi khởi đầu bài thơ bằng những xúc cảm trước vẻ đẹp mùa thu. – Đây là một quyết định khéo léo bởi vì trước kia mùa thu bao giờ cũng là thu thảm thu sầu còn từ sau cách mạng tháng 8 năm 1945 trở đi thì mùa thu vui – mùa thu cách mạng, mùa thu khai sinh ra đất nước. – Khởi đầu bằng những cảm xúc trước vẻ đẹp mùa thu giúp cho Nguyễn Đình Thi có được những suy tư về đất nước một cách tự nhiên và thoải mái hơn. – Nguyễn Khoa Điềm khắc họa hình tượng đất nước mình bằng cách đặt hình tượng này trong mối liên hệ với thời gian và không gian cụ thể còn về sau là thời gian không gian trừu tượng. – Đất nước được nhìn qua chiều dài của thời gian và mặt khác đất nước được xác định bởi những không gian có thể là những không gian nhỏ, không gian cụ thể và cũng có thể là những không gian mênh mông không gian trừu tượng trong lòng người. Hình tượng đất nước sẽ rất hoàn thiện khi nó được đặt trong 2 mối liên hệ này. * Còn khi xét về phương diện con nghệ thuật thì hình tượng đất nước trong 2 bài thơ của Nguyễn Đình Thi và Nguyễn Khoa Điềm có khá nhiều nét tương đồng. – Vì đây là hình tượng đất nước được khắc họa trong thơ ca mà hình tượng thơ lại là hình tượng cảm xúc, cho nên cả 2 tác giả đều viết về đất nước bằng niềm tự hào sâu sắc, bằng những nhận thức thấm thía về lịch sử về truyền thống dân tộc. – Nhà thơ Nguyễn Đình Thi đã khắc họa hình tượng đất nước của mình với 2 đặc điểm rất lớn, vừa trái ngược nhau lại vừa rất hài hòa với nhau. – Đấy là một đất nước vất vả đau thương với những cảnh đồng quê chảy máu dây thép gai đâm nát trời chiều, với cái cảnh “bát cơm chan đầy… còn giằng khỏi miệng ta”. Tuy nhiên đất nước chúng ta còn là một đất nước anh hùng quật khởi và một cái đất nước quật cường đã khiến cho kẻ thù bất lực. “Xiềng xích chúng bay … Lòng dân ta yêu nước thương nhà” – Nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm còn miêu tả những hình ảnh dân tộc bằng cách nối liền hiện tại với quá khứ và tương lai. Từ điểm nhìn hiện tại, Nguyễn Đình Thi lắng nghe những tiếng rì rầm trong lòng đất của quá khứ vọng về. – Đấy là tiếng nói hình ảnh của đất nước chưa bao giờ khuất. Đồng thời cảm hứng thơ còn đưa Nguyễn Đình Thi hướng tới tương lai. Ông như nhìn trước một nước Việt Nam từ trong máu lửa rũ bùn đứng dậy sáng lòa. – Còn ở trong bài thơ đất nước của mình, nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm lại bộc lộ niềm tin sâu sắc của ông về những hình ảnh văn hóa lâu đời. – Để viết nên bài thơ đất nước của mình, Nguyễn Khoa Điềm đã sử dụng với một mật độ rất cao các chất liệu văn hóa dân gian. Dựa trên rất nhiều câu ca dao tục ngữ, để viết nên những câu thơ của mình. – Ông còn đưa vào bài thơ rất nhiều truyền thuyết, những sinh hoạt phong tục tập quán đậm đà bản sắc dân tộc. Nguyễn Khoa Điềm còn ý thức một cách rất sâu sắc về những đóng góp lớn lao của nhân dân cho đất nước. – Đó là những đóng góp từ nhỏ nhặt cho đến lớn lao, những đóng góp được ghi lại trong sử sách và cả những đóng góp âm thầm lặng lẽ không ai biết. Đó còn là những đóng góp kiên nhẫn, bền bỉ truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Những điểm khác nhau của hình tượng đất nước ở 2 tác phẩm – Đây là 2 bài thơ được ra đời ở 2 thời điểm rất khác nhau và chính điều đó đã khiến cho hình tượng đất nước ở 2 bài thơ này có nhiều chỗ khác biệt. – Nguyễn Đình Thi thì khắc họa hình tượng đất nước với 2 đặc điểm và đặt hình tượng đất nước trong mối quan hệ với quá khứ và tương lai. – Trong khi ấy Nguyễn Khoa Điềm lại viết bài thơ này theo một định hướng tư tưởng nhằm chứng minh “đất nước này là đất nước của người dân”, mà tư tưởng cơ bản này đã chi phối toàn bộ bài thơ và nó quy định bút pháp, nó buộc Nguyễn Khoa Điềm phải chọn cái giải pháp đi từ cụ thể đến khái quát. Điều này là rất dễ giải thích bởi vì bản thân tư tưởng đất nước của người dân vốn đã là trừu tượng. Để cho sáng tỏ nó chỉ có 1 cách là đi từ rất nhiều những hình ảnh cụ thể, những đóng góp của người dân cho đất nước, những chất liệu văn hóa dân gian… để rồi từ rất nhiều hình ảnh cụ thể ấy tư tưởng đất nước của người dân mới được làm sáng tỏ. * Lí giải sự khác biệt Thực hiện thao tác này cần dựa vào các bình diện – Bối cảnh xã hội, văn hóa mà từng đối tượng tồn tại; phong cách nhà văn; đặc trưng thi pháp của thời kì văn học. Do sự khác biệt về phong cách – Thơ Nguyễn Đình Thi thường giàu nhạc tính có chất hội họa và điều đặc sắc nhất là có cả những suy tư sâu sắc của một tư duy triết học. Còn thơ Nguyễn Khoa Điềm thường viết về cuộc đấu tranh cách mạng. – Ông hay đề cao phẩm chất của những bà mẹ anh hùng, những chiến sĩ giải phóng kiên cường. Đặc biệt ông có những cảm nhận rất phong phú và sâu sắc về đất nước trong những năm chống Mĩ. Về phương diện bố cục – Chúng ta rất dễ dàng nhận thấy ở 2 bài thơ đất nước đều chia làm 2 phần nhưng sự liên kết 2 phần ở mỗi bài lại rất khác nhau. – Bài đất nước của Nguyễn Đình Thi được bắt đầu bằng những xúc cảm trước vẻ đẹp của mùa thu, mùa thu Hà Nội trong hồi tưởng và mùa thu Việt Bắc trong hiện tại. Để rồi sau đó mới chuyển sang quá khứ 2 thời điểm để diễn tả những suy tư cả tác giả đối với đất nước. – Trong khi ấy thì bố cục 2 phần của bài thơ đất nước của Nguyễn Khoa Điềm lại theo một cách hoàn toàn khác. Phần 1 dành cho việc khắc họa hình tượng đất nước trong mối liên hệ với thời gian. Để rồi toàn bộ phần 2 nhằm chứng minh cho tư tưởng với đất nước của người dân. c. Kết bài – Khái quát những nét giống nhau và khác nhau tiêu biểu. – Có thể nêu những cảm nghĩ của bản thân.

đoạn trích đất nước